Nhân Quả Môn

《因果門》 yīn guǒ mén

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đối lại: Thể Dụng Môn. Pháp Môn được Tông Pháp tướng sử dụng để nói rõ mối quan hệ giữa 7 Chuyển Thức và thức thứ 8 về phương diện Chủng TửHiện Hành. Mối quan hệ Năng Trì, sở trì giữa Chủng Tử và thức thứ 8 gọi là Thể Dụng Môn, tức thức thứ 8 Năng Trì là thể, Chủng Tử sở trì là dụng. Còn mối quan hệ Năng Trì, sở trì giữa Chủng TửHiện Hành thì gọi là Nhân Quả Môn, tức Chủng Tử năng sinh là nhân, Hiện Hành sở sinh là quả. Đây là Nhân Quả Môn luận theo tính dụng Sai Biệt. Phổ thông thường nói Chủng TửNhân Duyên gần của các pháp chính là y cứ vào Nhân Quả Môn này. Ngoài ra, nếu thức thứ 8 có năng lực sinh ra các pháp thì gọi là Nhiếp dụng qui thể Nhân Quả Môn. [X. luận Thành Duy Thức Q. 2.]. (xt. Thể Dụng Môn).