Nhân Quả Đồng Thời

《因果同時》 yīn guǒ tóng shí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đối lại: Nhân Quả dị thời. Chỉ cho 3 pháp: Chủng Tử năng sinh, Hiện Hành sở sinh và Chủng Tử sở huân đắp đổi (triển chuyển) đồng thời làm Nhân Quả lẫn nhau. Cứ theo các nhà Duy Thức thì Chủng TửNhân Sinh ra Hiện Hành; mà Hiện Hành này cũng có thể là nhân trở lại Huân Tập quả Chủng Tử. Như vậy, ba pháp: Chủng Tử + Hiện Hành + Chủng Tử triển chuyển (đắp đổi) đồng thời làm nhân làm quả cho nhau. Triển chuyểncó 2 nghĩa: Hỗ tương triển chuyển và Thứ Đệ triển chuyển. Triển chuyển ở đây nghĩa là Hỗ tương triển chuyển (đắp đổi lẫn nhau), cũng tức là Cánh hỗ nói trong luận Thành Duy Thức. Luận Thành Duy Thức quyển 2 (Đại 31, 10 thượng) nói: Khi thức Năng Huân... từ Chủng Tử sinh ra thì liền có năng lực làm nhân Huân Tập lại Chủng Tử. Ba pháp triển chuyển, Nhân Quả Đồng Thời. Như bấc đèn sinh lửa, lửa sinh nóng đốt bấc đèn. Cũng như bó lau, những cây lau nương tựa lẫn nhau, Nhân Quả Đồng Thời, lí không nghiêng đổ. (xt. Nhân Quả Dị Thời).