Nguyên Hưng Tự

《元興寺》 yuán xìng sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Gankō-ji: theo Nhật Bản Thư Kỷ (), Tô Ngã Mã Tử (, Soga-no-Umako, ?-626) Phát Nguyện tạo dựng ngôi chùa này vào năm 588 trên vùng đất của Chơn Thần Nguyên (, Makami-no-Hara) thuộc vùng Phi Điểu (, Asuka); và ước trong vòng 9 năm chùa mới được hoàn thành vào năm 596. Trước kia ngôi chùa này được gọi là Phi Điểu Tự (, Asuka-dera) hay Pháp Hưng Tự (, Hōkō-ji). Trong Cuộc Cải Tân Đại Hóa, dòng họ Tô Ngã (, Soga) bị diệt vong, nên chùa lại thuộc vào tay của chính phủ; rồi dưới triều Đại Thiên(, Temmu) thì chùa trở thành chùa quan, và dưới thời đại của dòng họ Đằng Nguyên (, Fujiwara), nó trở thành một trong 4 ngôi chùa lớn nổi tiếng. Vào năm 710, kinh đô được dời về Bình Thành (, Heizei), nên năm sau thì Thiền Viện của Pháp Hưng Tự cũng được dời về nơi đây và trở thành ngôi Thiền Viện độc lập. Đến năm 718, đại bộ phận chùa được dời về vị trí hiện tại và đổi tên thành Nguyên Hưng Tự. Đến Thời Đại Nại Lương, nơi đây rất thịnh hành việc chép kinh. Giáo học nơi đây có Tam Luận TôngPháp Tướng Tông, mỗi mỗi hình thành nên tăng đoàn riêng của mình và hình thành hai hệ thống giáo học lớn của kinh đô. Tuy nhiên, vào năm 1451 và 1859, do vì hỏa hoạn, ngôi Già Lam bị cháy rụi, hiện tại chỉ còn lưu lại tòa nhà chính mà thôi.