Ngũ Hồ

《五湖》 wǔ hú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi chung của 5 hồ lớn ở vùng Giang Nam (), như trong Sử Ký (), phần Tam Vương Thế Gia () có câu: “Đại Giang chi nam, Ngũ Hồ chi gian, kỳ nhân khinh tâm (, ở phía Nam của Đại Giang, khoảng giữa của Ngũ Hồ, lòng người nhẹ nhõm).” Tư Mã Trinh () giải thích rằng: “Ngũ Hồ giả, Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình thị dã (, Ngũ Hồ là Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình).” Trong Đan Duyên Tổng Lục (), phần Địa Lý () của Dương Thận (, 1488-1559) nhà Minh có ghi rằng: “Vương Bột văn 'khâm Tam Giang nhi đới Ngũ Hồ', tắc tổng ngôn Nam phương Ngũ Hồ; Động Đình nhất dã, Thanh Thảo nhị dã, Bà Dương tam dã, Bành Lễ tứ dã, Thái Hồ ngũ dã (''、, đoạn văn 'ôm Ba Sông mà mang Năm Hồ' của Vương Bột là tên gọi chung của năm hồ lớn ở phương Nam; một là Động Đình, hai là Thanh Thảo, ba là Bà Dương, bốn là Bành Lễ, năm là Thái Hồ).” Thao Cách nay là Hồ Trường Đãng () ở Giang Tô (); Bành Lễ hiện tại là Hồ Bà Dương; Thanh Thảo nay thuộc Đông Nam bộ của Động Đình Hồ. (2) Chỉ Động Đình Hồ, như trong bài thơ Quy Nhạn () của thi hào Đỗ Phủ (, 712-770) nhà Đường có câu: “Niên niên sương lộ cách, bất quá Ngũ Hồ thu (, hằng năm sương khói phủ, chẳng qua Ngũ Hồ thu).” (3) Chỉ cho 5 hồ lớn hiện tại ở vùng Hoa Trung () và Hoa Đông (); gồm: Hồ Động Đình, Hồ Bà Dương, Hồ Sào (), Hồ Hồng Trạch () và Thái Hồ (). (4) Vào cuối thời Xuân Thu (), quan Đại Phu của nước Việt là Phạm Lãi (), bổ tá Việt Vương Câu Tiễn () đi diệt vong nhà Ngô; sau khi thành công, ông lui về ẩn cư, cỡi thuyền con mà ẩn cư nơi Ngũ Hồ; cho nên về sau Ngũ Hồ được dùng để chỉ cho nơi ẩn cư. Như trong bài thơ Thư Tình Tặng Thái Xá Nhân Hùng () của Lý Bạch (, 701-762) nhà Đường có câu: “Ngã túng Ngũ Hồ trạo, yên đào tứ băng bôn (, ta tung hoành khắp chốn, khói mây mặc rong chơi).”