Ngũ Đẩu Tinh Quân

《五斗星君》 wǔ dòu xīng jūn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: là 5 vị thần thánh được Đạo Giáo kính thờ, chuyên quản lý việc sống chết, phước họa, giàu sang của con người, được phân làm Bắc Đẩu Tinh Quân (), Nam Đẩu Tinh Quân (), Đông Đẩu Tinh Quân (), Tây Đẩu Tinh Quân (西) và Trung Đẩu Tinh Quân (). Mỗi vị tinh quân quản hạt mỗi cung khác nhau. (1) Bắc Đẩu Tinh Quân có 7 cung, được gọi là Thất Tinh (), hay Thất Nguyên (), chủ yếu chưởng quản về việc giải ách, kéo dài mạng sống. Bảy cung gồm: Thiên Quỹ Tinh (), Dương Minh Tham Lang Tinh Quân (); Thiên Tuyền Tinh (), Âm Tinh Cự Môn Tinh Quân (); Thiên Ki Tinh (), Chơn Nhân Lộc Tồn Tinh Quân (祿); Thiên Quyền Tinh (), Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân (); Thiên Hành Tinh (), Đơn Nguyên Liêm Trinh Tinh Quân (); Khai Dương Tinh (), Bắc Cực Võ Khúc Tinh Quân (); Diêu Quang Tinh (), Thiên Xung Phá Quân Tinh Quân (). Trên thực tế, chùm sao Bắc Đẩu có 9 ngôi sao, nên còn thêm Động Minh Tinh (), Ngoại Phụ Tinh Quân (); và Ẩn Nguyên Tinh (), Nội Bậc Tinh Quân (). (2) Nam Đẩu Tinh Quân thì chưởng quản về kéo dài tuổi thọ, độ người, chia thành 6 cung, gồm: Thiên Phủ Tinh (), Ty Mạng Tinh Quân (); Thiên Tướng Tinh (), Ty Lộc Tinh Quân (祿); Thiên Lương Tinh (), Diên Thọ Tinh Quân (); Thiên Đồng Tinh (), Ích Toán Tinh Quân (); Thiên Quỹ Tinh (), Độ Ách Tinh Quân (); và Thiên Cơ Tinh (), Thượng Sanh Tinh Quân (). (3) Đông Đẩu Tinh Quân có 5 cung, chưởng quản việc tính toán mạng sống, gồm: Thương Linh Diên Sanh Tinh Quân (), Lăng Diên Hộ Mạng Tinh Quân (), Khai Thiên Tập Phước Tinh Quân (), Đại Minh Hòa Dương Tinh Quân (), và Vĩ Cực Tổng Giám Tinh Quân (). (4) Tây Đẩu Tinh Quân có 4 cung chưởng quản về mạng sống, hộ thân, gồm: Bạch Tiêu Tinh Quân (), Cao Nguyên Tinh Quân (), Hoàng Linh Tinh Quân (), Cự Uy Tinh Quân (). (5) Trung Đẩu Tinh Quân, còn gọi là Đại Khôi (), chủ yếu quản lý việc bảo vệ mạng sống, gồm 3 cung: Hách Linh Độ Thế Tinh Quân (), Cán Hóa Thượng Thánh Tinh Quân (), Xung Hòa Chí Đức Tinh Quân (). Trong 5 chùm sao nói trên, hai chùm sao Bắc Đẩu và Nam Đẩu được người đời kính phụng nhiều nhất. Người sanh năm Giáp và Ất thì thuộc về Đông Đẩu; năm Bính, Đinh thuộc về Nam Đẩu; năm Mậu, Kỷ thuộc về Trung Đẩu; năm Canh, Tân thuộc về Tây Đẩu; năm Nhâm, Quý thuộc về Bắc Đẩu. Như trong Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đẩu Kim Chương Thọ Sanh Kinh () của Đạo Giáo có giải thích rõ rằng: “Giáp Ất sanh nhân Đông Đẩu chú sanh, Bính Đinh sanh nhân Nam Đẩu chú sanh, Mậu Kỷ sanh nhân Trung Đẩu chú sanh, Canh Tân sanh nhân Tây Đẩu chú sanh, Nhâm Quý sanh nhân Bắc Đẩu chú sanh; chú sanh chi thời các bẩm Ngũ Hành chân khí, chân khí hỗn hợp, kết tú thành thai; thọ thai thập nguyệt, châu hồi Thập Phương, Thập Phương sanh khí, …, thọ sanh chi thời, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên Thánh Chúng, chú sanh chú lộc, chú phú chú bần, chú trường chú đoản, chú cát chú hung, giai do Chúng Sanh, tự tác tự thọ (西祿, người sanh năm Giáp Ất thì Đông Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Bính Đinh thì Nam Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Mậu Kỷ thì Trung Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Canh Tân thì Tây Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Nhâm Quý thì Bắc Đẩu ban cho mạng sống; khi ban cho mạng sống, mỗi người đều nhờ chân khí Ngũ Hành, chân khí hỗn hợp, kết tụ thành thai; thọ thai mười tháng, vòng quanh mười phương, mười phương sinh khí, …, khi thọ thai ấy, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên Thánh Chúng, ban cho sự sống, phước lộc; ban cho giàu có, nghèo cùng; ban cho ngắn dài; ban cho tốt xấu, đều do Chúng Sanh, tự làm tự chịu).”