Ngọc Kệ

《玉偈》 yù jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: câu kệ tụng quý giá như vàng ngọc. Kệ (s, Pāli: gāthā ): âm dịch là Già Đà (), Già Tha (), Kệ Đà (); ý dịch là Phúng Tụng (), tạo tụng (), kệ tụng (), tụng (), cô khởi tụng (), bất trùng tụng kệ (). Về nghĩa rộng, Già Đà chỉ cho ca dao, thánh ca; nghĩa hẹp chỉ cho đoạn cuối hay phần chót của kinh văn; nội dung không nhất định và có quan hệ với mạch văn trước sau. Như trong Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1353) quyển 1 có câu: “Lang Hàm Ngọc Kệ biến mãn Long Cung, hải giác thiên nhai tiềm phu áo nghĩa, hoặc chiêm hoặc lễ huýnh thoát Căn Trần, nhược kiến nhược văn câu thành chủng trí (滿, hòm báu kệ ngọc cùng khắp Long Cung, góc biển bờ trời thầm tuyên áo nghĩa, hoặc nhìn hoặc lễ mau thoát bụi trần, nếu thấy nếu nghe đều thành chủng trí).” Hay trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 9, phần Niệm Phật Chánh Báo Thuyết (), lại có câu: “Thần yết từ nhan đắc Pháp Ấn nhi hoàn quốc, mộ du kim sát thính Ngọc Kệ dĩ tiêu dao (, sáng viếng tôn sư được Pháp Ấn mà về nước, chiều chơi tự viện nghe kệ ngọc bỗng tiêu dao).”