Nam Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Xưa gọi: Kim lăng, Kim lăng phủ, Giang ninh phủ, Tập khánh lộ, Ứng thiên phủ. Một Đô Thị lớn ở hạ du sông Trường giang, tỉnh Giang tô, Trung Quốc. Kể từ nước Ngô thời Tam Quốc, tiếp đến là Đông Tấn, rồi Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều đều lấy nơi này làm thủ đô và gọi là Kiến khang. Đây là nơi hưng thịnh của Phật giáo thời Nam Bắc Triều, cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa Đô Thị ở miền Nam Trung Quốc lúc bấy giờ. Triều Minh, vua Thái tổ cũng đặt đô ở đây, nhưng đến vua Thành tổ thì dời về Bắc kinh. Đến năm Chính thống thứ 6 (1441) đời vua Anh tông, Kiến khang được gọi là Nam Kinh để đối lại với Bắc kinh. Năm 1927, chính phủ Dân quốc lấy Nam Kinh làm trụ sở của Chính phủ Trung ương, gọi là Thủ đô th ị(Thành phố thủ đô). Các hoàng gia Nam triều vốn ủng hộ Phật giáo, cho nên việc giảng kinh, dạy học và các hoạt động khác của Phật giáo ở đây cũng rất phát triển. Những ngôi chùa nổi tiếng ở Kiến khang thời bấy giờ gồm có: Chùa Kì viên, chùa Trang Nghiêm, chùa Quang Trạch, chùa Ngõa quang, chùa Kiến sơ (chùa Đại báo ân), chùa Thê hà, chùa Đồng thái, chùa Đại ái kính v.v... Kiến khang cũng là nơi trung tâm của học phái Thành thực và Đại sư Trí Khải, trước khi vào núi Thiên thai, cũng đã từng trụ ở đây. Ngoài ra, ở nơi đây cũng có nhiều thắng Tích Phật giáo, như chùa Linh cốc núi Chung Sơn, núi Ngưu Đầu (chùa Phổ giác), chùa U thê (chùa Tổ đường), chùa Định lâm, chùa Chỉ viên, núi Kê long, núi Thạch đầu, đài Vũ hoa, núi Tụ bảo, chùa Thiên giới núi Phụng sơn v.v... [X. Kim Lăng Phạm Sát Chí; Độc sử phương dư kỉ yếu Q. 20.]