Mộc Ngư
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Xưa gọi là Ngư cổ, Ngư bản. Pháp Khí hình con cá làm bằng gỗ, bên trong rỗng, gõ phát ra tiếng, tức là loại mõ gỗ được dùng trong các chùa hiện nay. Mộc Ngư dùng khi tụng kinh thì tròn, khắc thành hình rồng 2 đầu 1 thân, 2 đầu hướng vào nhau, cùng ngậm 1 hạt châu; còn Mộc Ngư được sử dụng để báo hiệu khi triệu tập đại chúng thì gọi là Ngư bang ( ), có hình con cá dài, thông thường được treo ở hành lang nhà trai, nhà kho, khi thụ trai thì đánh. Sở dĩ tạo hình cá là do sự tích Trương hoa đời Tấn dùng cái dùi bằng gỗ cây vông có khắc hình cá để đánh trống đá; hoặc có thuyết cho rằng vì loài cá ngày đêm đều mở mắt, cho nên làm Mộc Ngư để gõ, hầu cảnh giác người tu Hành Không được biếng nhác. Đời sau thì đổi hình cá khắc hình rồng, là do thuyết cá hóa rồng, tượng trưng ý nghĩa từ Phàm Phu trở thành bậc Thánh. [X. môn Bái Khí trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên; điều Pháp Khí môn Mộc Ngư trong Tăng tu giáo uyển thanh qui Q.hạ].