Minh Lộ

《冥路》 míng lù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: đồng nghĩa với Minh Đồ (), nghĩa là con đường tối tăm (thường ví cho Địa Ngục), hay còn có nghĩa ám chỉ lúc chết. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (), phần Đại Mục Càn Liên Minh Gian Cứu Mẫu Biến Văn () có đoạn: “Hồn phách phiêu lưu Minh Lộ gian, nhược vấn Tam Đồ hà xứ khổ, hàm ngôn Ngũ Đạo Quỷ Môn quan (, hồn phách phiêu lưu u tối gian, nếu hỏi Ba Đường nơi nào khổ, đều cho Năm Nẻo Quỷ Môn quan).” Hay như trong bài từ Thu Nhụy Hương Dẫn () của Liễu Vĩnh (, ?-1053) nhà Tống lại có câu: “Hướng Tiên Đảo, quy Minh Lộ, lưỡng vô tiêu tức (, người thì hướng đảo tiên, người thì trở về Minh Lộ, cả hai đều mất tin tức).” Trong Toàn Đường Thi () quyển 865, bài Tặng Đậu Thừa () của Lưu Khái (, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Minh Lộ tra tra nhân bất tri, bất dụng khổ thuyết sử nhân bi, hỷ đắc phùng quân truyền gia tín, hậu hội mang mang hà xứ kỳ (使, lối mờ mù mịt người có hay, chẳng cần giải thuyết khiến buồn lo, may gặp được anh tin nhà nhắn, mai này mênh mang chốn nào đây ?).” Về nghĩa chỉ lúc gần chết, trong Liêu Trai Chí Dị (), thiên Liên Hương () của Bồ Tùng Linh (, 1640-1715) nhà Thanh có đoạn: “Liên nhập viết: 'Quân đãi hỉ, thị chơn quỷ vật, kỳ nật mỹ nhi bất tốc tuyệt, Minh Lộ cận hỉ' (, Liên Hương đi vào nói: 'Ngươi nguy rồi ! Quả đúng là quỷ vật thứ thiệt, gần cái đẹp mà không dứt sớm, cái chết gần kề rồi đó !').”