Lý Độc Tính Độc

《理毒性毒》 lǐ dú xìng dú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Lí tính độc hại. Lí độc hay tính độc? Đây là Nguyên Nhân của sự tranh cãi giữa 2 phái Sơn Gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai Trung Quốc. Trong Thỉnh Quan Âm Kinh sớ, khi giải thích Đề Mục: Tiêu phục độc hại Đà La Ni, ngài Trí Khải cho rằng pháp có 2 nghĩa thể và dụng, Tiêu phục độc hại là nói rõ về lực dụng của pháp, còn Đà La Ni là thuyết minh thể của pháp. Tác Dụng của Tiêu phục độc hại có 3 phương diện: Sự, Hành, Lí. Sự tức các sự vật như hổ (cọp), chó sói, dao gươm..., Hành tức là Ngũ trụ địa Phiền Não, còn Lí là Pháp Giới vô ngại, vốn vô nhiễm mà nhiễm, tức là cái độc của lí tính. Về vấn đề này, ngài Trí viên thuộc phái Sơn ngoại chủ trương 2 thứ lí độc, tính Độc Không giống nhau, cho rằng Chân Như lấy Vô Minh làm duyên mà sinh ra các pháp, các Pháp Không nhiễm mà nhiễm, cho nên gọi là Lí độc. Cái độc này chẳng phải tính Chân Như sẵn có, vì thế Lí độc có Thể Diệt trừ. Còn tính độc là tính ác, không Thể Diệt trừ, vì vậy không nên cho tính ác tức là Lí độc. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn Gia thì cho thuyết này là thuyết của Biệt Giáo, còn Viên giáo thì thừa nhận Lí độc tức là Tính độc. Ngài Tri lễ căn cứ vào chữ tức trong tiêu đề Lí độc tức tính độc mà luận cứu, cho rằng nếu trong Pháp Giới mê lầm của Chúng Sinh không có sẵn tính nhơ nhớp của 3 chướng, mà do chịu sự Huân Tập biến đổi mới phát sinh 3 chướng, thì đây là nghĩa của Biệt Giáo, chứ nghĩa của chữ tức không được thành lập; vì Pháp Giới mê lầm vốn đã có sẵn tính nhơ nhớp của 3 chướng, cho nên mới hiện 3 chướng, đến khi trở về nguồn gốc, thì cũng vẫn tự nhiên nhiễm độcv(tức tính độc), như thế mới phù hợp với nghĩa chữ tức, mới khế nhập ý chỉ của Viên giáo. [X. Thỉnh Quan Âm Kinh sớ xiển nghĩa sao Q. 1.; Thích thỉnh Quan âm sớ trung tiêu phục tam dụng trong Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q. 2.; Thiên thai giáo học sử].