Lục Vô Vi

《六無爲》 liù wú wèi

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Wađasaôskfta. Sáu pháp Vô Vi căn cứ vào Thức BiếnPháp Tính mà được giả lập, 1 trong 5 vị, 100 pháp của tông Duy Thức. Đó là:
1. Hư Không Vô Vi: Chân Như được hiển hiện do đã xa lìa Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng. Chân Như này không có chướng ngại, giống như Hư Không, cho nên gọi là Hư Không Vô Vi.
2. Trạch diệt Vô Vi: Chân Lí hiển hiện do thoát li sự trói buộc của tất cả Hữu Lậu. Đây là căn cứ vào sự đoạn chướng mà đặt tên, vì trạch diệt nghĩa là xa lìa sự trói buộc, nên gọi là Trạch diệt Vô Vi.
3. Phi Trạch Diệt Vô Vi: Tự tính của Chân Như xưa nay vốn là thanh tịnh, lìa các Tạp Nhiễm, vì nó không phải do sức lựa chọn của trí vô lậu nên gọi là Phi Trạch Diệt Vô Vi. Đây là theo sự giải thích của Đại Thừa. Còn theo sự giải chung của Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, thì pháp Hữu Vi thiếu duyên nên Không Sinh, nếu cái Không Sinh này diệt thì Chân Lí hiển hiện, đây cũng chẳng phải do sức chọn lựa của trí vô lậu, nên gọi là Phi Trạch Diệt Vô Vi.
4. Bất Động Vô Vi: Chỉ cho Vô Vi hiển hiện ở Đệ Tứ Thiền. Vì ở cõi này chỉ có xả thụ, chứ không có Khổ ThụLạc Thụ, nên gọi là Bất Động. Vì ở cảnh diệt Khổ ThụLạc Thụ mà hiển hiện Chân Lí vắng lặng, nên gọi là Bất Động Vô Vi.
5. Tưởng thụ diệt Vô Vi: Vô Vi hiển hiện ở trong Diệt Tận Định. Vì ở trong Diệt Tận Định, diệt hết Tâm Tưởng 6 thức và 2 thụ khổ, lạc, cho nên gọi là Tưởng thụ diệt Vô Vi.
6. Chân Như Vô Vi: Pháp Vô Vi vốn chân thực thường như, không Hư Vọng biến đổi, nên gọi là Chân Như Vô Vi. Trong 6 Vô Vi, 5 Vô Vi trước là mượn tên để giải thích rõ tướng của Pháp Tính, còn Vô Vi thứ 6 là mượn tên để giải thích rõ thể của Pháp Tính. Sáu Vô Vi do Thức Biến, nghĩa là từng nghe nói đến tên Hư Không, lại theo sự Phân Biệt mà có tướng Hư Không, rồi do sức Huân Tập mà biến hiện ra tướng Vô Vi giống như Hư Không. Tướng sở hiện này trước sau giống nhau không thay đổi, nên giả nói là thường. Ngoài ra, các nhà Duy Thức còn chia Chân Như Vô Vi trong 6 Vô Vi nói trên thành 3 thứ là: Thiện Pháp Chân Như, Bất Thiện Pháp Chân Như và Vô kí pháp Chân Như, thêm vào 5 Vô Vi trước mà lập thuyết Bát Vô Vi (tám Vô Vi). [X. luận Thành Duy Thức Q. 2.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 2., phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q. 9.]. (xt. Vô Vi).