Lục Cảnh

《六境》 liù jìng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Wađ viwayà. Chỉ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đây là đối tượng của 6 căn, cũng là 6 cảnh giới của 6 thức. Sáu cảnh này giống như bụi bặm làm nhơ bẩn tâm tính con người, cho nên gọi là Lục trần. Vì chúng có khả năng dẫn dắt con người vào chỗ Mê Vọng nên cũng gọi là Lục vọng; vì có thể làm cho pháp lành bị suy giảm, nên cũng gọi Lục suy; vì chúng có thể cướp mất tất cả Thiện Pháp, cho nên còn được gọi là Lục tặc. Sắc Cảnh có 12 Hiển Sắc là xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, sương, bóng, ánh sáng, sáng, tối, với 8 Hình Sắc là dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, ngay thẳng và không ngay thẳng. Thanh cảnh có 2 loại: Do Chúng Sinh hữu tình phát ra và do vật chất phát ra, mỗi mỗi đều có ngôn ngữ và âm thanh biểu thị cho lí của sự vật; như tiếng vỗ tay, tiếng khóc, tiếng đàn sáo, tiếng sấm vang v.v..., lại chia ra 2 loại là tiếng nhanh, tiếng chậm, tất cả có 8 thứ. Hương cảnh có 4 loại: Mùi thơm (như trầm hương), mùi hôi (như hành, hẹ), mùi thoảng nhẹ, mùi cực nặng. Vị cảnh có 6 thứ: Đắng, chua, mặn, cay, ngọt, lạt. Xúc cảnh có 11 thứ: Cứng, ướt, ấm, động (4 đại), trơn, ráp, nặng, nhẹ, lạnh, đói, khát... Pháp Cảnh, rộng thì bao hàm tất cả pháp, hẹp thì chỉ cho Tác Dụng của ý căn, ý thức đối với toàn thể 6 cảnh; hoặc đặc biệt chỉ cho đối tượng Tác Dụng của ý căn, ý thức. Hữu Bộ cho rằng Pháp Cảnh bao hàm Vô Biểu Sắc, Tâm Sở, Bất tương ứng hành Vô Vi. Ngoài ra, học thuyết Duy Thức của Du Già hành phái chủ Trương Thuyết Ngoài thức không có cảnh và cho rằng 6 cảnh đều do tâm biến hiện. [X. luận Duy Thức; luận Câu xá Q. 2.; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng, luận Thuận chính lí Q. 6.].