Lỗ Thị

《魯氏》 lǔ shì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức Lỗ Ban (), người thợ kiến trúc kiệt xuất, nổi tiếng của nước Lỗ dưới thời nhà Chu, ông họ là Công Thâu (), kỹ nghệ siêu tuyệt, có nhiều phát minh lạ, đời sau tôn sùng ông là Tổ Sư của nghề mộc. Có thuyết cho rằng Công Thâu Tử () cùng nhân vật với Lỗ Ban này, nhưng cũng có thuyết cho là khác. Tương truyền ông chế ra cái thang dài đến tận mây xanh (vân thê [], dùng làm khí giới tấn công thành quách) và con diều gỗ (mộc diên [], có thể giống như chiếc máy bay). Như trong Mạnh Tử (), phần Ly Lâu Thượng () có câu: “Ly Lâu chi minh, Công Thâu Tử chi công, bất dĩ quy củ, bất năng thành phương viên (, sự sáng suốt của Ly Lâu, tài khéo tay của Công Thâu Tử, nếu không theo quy củ, không thể thành vuông tròn).” Hay trong Nhật Dụng Tục Tự (), phần Mộc Tượng () của Bồ Tùng Linh (, 1640-1715) nhà Thanh có giải thích rằng: “Mộc tượng Tổ Sư thị Lỗ Ban, gia hỏa học thành tải nhất thuyền (, Tổ Sư nghề mộc là Lỗ Ban, từ những điều góp nhặt học thành, chở đầy một thuyền).” Về lai lịch của ông, trong Tây Dương Tạp Trở () Tục Tập, quyển 4 có ghi rằng: “Cứ Triều Dã Thiêm Tải vân: 'Lỗ Ban giả, Túc Châu Đôn Hoàng nhân, mạc tường niên đại, công mâu tạo hóa; ư Lương Châu tạo Phù Đồ, tác mộc diên, mỗi kích tiết tam hạ, thừa chi dĩ quy; vô hà, kỳ thê hữu nhâm; phụ mẫu cật chi, thê cụ thuyết kỳ cố; phụ hậu tứ đắc diên, kích tiết thập dư Hạ Thừa chi, toại chí Ngô hội; Ngô nhân dĩ vi yêu, toại sát chi; Ban hựu vi mộc diên thừa chi, toại hoạch phụ thi; oán Ngô nhân sát kỳ phụ, ư Túc Châu thành Nam tác nhất mộc Tiên Nhân, cử thủ chỉ Đông Nam, Ngô Địa Đại hạn tam niên; Bặc viết Ban sở vi dã; tê vật cụ thiên số tạ chi; Ban vi đoạn nhất thủ, kỳ nhật Ngô trung đại vũ; quốc sơ, thổ nhân thượng Kỳ Đảo kỳ mộc tiên; Lục Quốc thời, Công Thâu Ban diệc vi mộc diên dĩ khuy Tống thành' (, theo Triều Dã Thiêm Tải cho rằng: 'Lỗ Ban là người Đôn Hoàng, Túc Châu, không rõ niên đại, khéo tay nằng tạo hóa; tại Lương Châu ông từng dựng chùa Phật, làm diều gỗ; mỗi lần vỗ nó vào ba lần, cỡi lên diều trở về nhà; không hiểu vì sao, vợ ông mang thai, cha mẹ đều hỏi han; vợ ông kể rõ nguyên do; sau đó người cha dò xét xem sao và có được diều gỗ; ông vỗ vào hơn mười lần, rồi cỡi lên bèn đến đất Ngô; dân Ngô cho đó là yêu quái, liền giết chết ông; Lỗ Ban lại cỡi lên con diều gỗ, lấy được thi hà phụ thân, oán hận dân Ngô giết cha mình, bèn làm một hình Tiên Nhân bằng gỗ ở phía Nam thành Túc Châu, đưa tay chỉ về hướng Đông Nam, từ đó đất Ngô bị hạn hán ba năm; vua Bặc bảo rằng đó là do Lỗ Ban làm ra, bèn sai đem vật phẩm đủ số ngàn tạ ông; Lỗ Ban chém đứt một tay người gỗ, ngày hôm ấy trong nước Ngô mưa lớn; lúc mới lập quốc, người dân trong vùng vẫn thường cầu nguyện Tiên Nhân gỗ; đến thời Lục Quốc, Công Thâu Ban cũng dùng diều gỗ để thám thính thành nhà Tống').” Theo Lỗ Ban Kinh (), phần Lỗ Ban Tiên Sư Nguyên Lưu () của Đạo Giáo cho rằng ông húy là Ban, họ Công Thâu (), tự là Y Trí (), người Thôn Đông Bình (); cha húy là Hiền (), mẹ họ Ngô (), người nước Lỗ; nên được lấy tên nước làm họ; sanh vào năm thứ 13 (507 ttl.) đời Chu Kính Vương () và mất năm thứ 25 (444 ttl.) đời vua Chu Trinh Định Vương (). Lỗ Ban còn nổi tiếng về bùa, chú, ếm đối, nên thường có loại Bùa Lỗ Ban. Trong dân gian vẫn thường có thành ngữ “Ban môn lộng phủ ()”, nghĩa là múa búa trước cửa Lỗ Ban, hay múa rìu qua mắt thợ, là để chỉ người không biết liệu tài sức của mình, dám khoe tài trước mặt bực thầy, nên chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Như trong bài Dữ Mai Thánh Du Thư () của văn học gia Âu Dương Tu (, 1007-1072) nhà Tống có câu: “Tạc tại Chơn Định, hữu thi thất bát thủ, kim lục khứ, Ban môn lộng phủ, khả tiếu khả tiếu ( , hôm qua tại Chơn Định, có làm bảy tám câu thơ, nay xem lại, đúng là múa búa trước cửa Lỗ Ban, nực cười nực cười thay !).” Hiện tại vẫn lưu hành Thước Lỗ Ban (), hay thường được gọi là Thước Văn Công (), dài 1 thước 4 tấc 1 phân, lấy 5 chữ sanh (), lão (), bệnh (), tử (), khổ () làm cơ sở, chia thành 8 cách, mỗi cách có cát hung, tốt xấu, theo đó phân thành 8 cung: (1) Tài (, tiền tài, tài năng), (2) Bệnh (, Bệnh Hoạn, bất lợi), (3) Ly (, Lục Thân ly tán, chia lìa) (4) Nghĩa (, phù hợp chính nghĩa, quy Phạm Đạo đức, hay khuyên người làm việc thiện), (5) Quan (, vận làm quan, chức quyền cao), (6) Kiếp (, bị cướp đoạt, áp bức), (7) Hại (, hoạn nạn, nguy hại), (8) Bổn (, bản vị hay Bản Thể của sự vật).