Liên Phòng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có hai nghĩa chính:(1) Đài sen. Vì bên trong đài sen có hạt sen, mỗi hạt đều cách nhau bởi một lỗ hổng, nên gọi là “Liên Phòng (蓮房, phòng của đài sen).” Trong bài thơ Thu Hứng (秋興) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Lộ lãnh Liên Phòng trụy phấn hồng (露冷蓮房墜粉紅, hơi sương lạnh đài sen rơi phấn hồng).” Trong bài Thái Liên Phú (採蓮賦) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường lại có câu: “Thính lăng ca hề kỉ khúc, thị Liên Phòng hề kỉ chu (聽菱歌兮幾曲、視蓮房兮幾株, nghe bài ca hái ấu chừ mấy khúc, nhìn đóa sen chừ được mấy gốc).” Trong Tây Phương Phát Nguyện Văn Chú (西方發願文註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1161) có giải thích rõ rằng: “Kim Cang Đài, tức Liên Hoa Tòa, kỳ tòa Kim Cang sở thành, cố danh Kim Cang Đài; hựu hoa nội Liên Phòng, diệc danh vi đài, Thượng Phẩm Thượng Sanh, nãi hữu thử đài (金剛臺、卽蓮華座、其座金剛所成、故名金剛臺、又華內蓮房、亦名爲臺、上品上生、乃有此臺, Đài Kim Cang tức là Tòa Hoa Sen, tòa này do Kim Cang mà thành, nên có tên là Đài Kim Cang; lại trong hoa có Liên Phòng, cũng gọi là đài; hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh sẽ có đài này).” Sau này, người ta thường dùng một số câu để chúc mừng sanh con nói chung, hay sanh con trai nói riêng như tử chủng Liên Phòng (子種蓮房, hạt gieo trong đài sen), Liên Phòng đắc tử đa (蓮房得子多, đài sen được nhiều hạt), v.v. (2) Chỉ cho phòng ở của chư tăng. Vì Phật Giáo lấy tượng trưng cho sự trong sạch, không nhiễm của hoa sen để ví dụ cho phòng ở của chư tăng. Như trong Tây Quy Trực Chỉ (西歸直指, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1173) quyển 2 có đoạn: “Bỉ tắc chất thác Liên Phòng, an tọa diệu hương cung điện, ký bất thọ bào thai chi ô uế, phục bất lụy mẫu thị chi Cù Lao (彼則質托蓮房、安坐妙香宮殿、旣不受胞胎之汙穢、復不累母氏之劬勞, vị ấy sẽ sinh ra nơi phòng sen, an tọa trên cung điệu hương thơm, đã không bị sự ô uế của bào thai, lại chẳng phải chịu sự nuôi nấng cực khổ của người mẹ).”