Lân A Già Sắc

《鄰阿伽色》 lín ā gā sè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Agha-sàmantaka. Cũng gọi Lân ngại sắc, Lân a ca sắc. Màu sắc của Hư Không. Có 3 thuyết.
1. Thuyết thứ nhất: Chủ trương rằng Lân a già tức chỉ cho kẽ hở lấy sáng, tối làm thể của nó, mà kẽ hở thì tức là không giới, vì thế, Lân A Già Sắc tức là màu của Hư Không.
2. Thuyết thứ hai: A già (Phạm: Agha) chỉ cho sự Tích Tụ vật chất(Sắc Pháp) có hình tướng mà thô tạp; nó đã bị những vật chất khác làm trở ngại thì nó cũng sẽ làm cho những vật chất khác bị trở ngại. Cứ theo đó thì màu sắc của Hư Không gần kề với loại vật chất (A già) có tính chướng ngại, cho nên gọi là Lân A Già Sắc, nghĩa gần với màu sắc a già.
3. Thuyết thứ 3: A già (Phạm: Agha) nghĩa là không ngăn ngại, chỉ cho màu sắc của Hư Không vô hình nhỏ nhiệm, màu sắc này của Hư Không gần sát với những vật chất khác có tính chướng ngại, vì thế gọi là Lân A Già Sắc. Loại màu sắc Hư Không này, trong các kinh Phật chữ Hán thường được dịch là Lân A Già Sắc, hoặc dịch thẳng là Không Giới Sắc, nhưng chưa xác định nó thuộc nghĩa nào trong 3 nghĩa nêu trên, cho nên các bộ luận sớ hoặc các sách Âm Nghĩa đời sau, khi đề cập đến A Già Sắc hoặc Không Giới Sắc, thì cứ tự do chú giải. Nhưng luận Câu xá bản dịch Tây tạng thì dịch màu sắc a già là thogsmed-ĩe-#khor, nghĩa là Lân vô ngại, tức là dùng theo thuyết thứ ba. [X. Câu xá Thích Luận Q. 1.; Câu xá luận quang kí Q. 1.; Câu xá luận bảo sớ Q. 1. phần dưới; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q. 24.]. (xt. A Già Sắc).