Lâm Tế Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Lâm Tế Tự. Chùa Lâm tế, ở huyện Chính định, Tỉnh Hà bắc, Trung Quốc. Vốn có tên là viện Lâm tế, được sáng lập vào năm Hưng hòa thứ 2 (540) đời Hiếu tĩnh đế nhà Đông Ngụy. Khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà Đường, Thiền Sư Lâm tế Nghĩa huyền về trụ chùa này, đại chấn Thiền Phong, người học từ khắp nơi tụ về rất đông. Cứ theo Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu Thiền Sư Ngữ Lục, thì chùa này ở góc Đông nam thành Trấn châu, Tỉnh Hà bắc, mặt nhìn xuống (lâm) sông (tế) Hô đà, vì thế có tên là Lâm tế. Năm Hàm thông thứ 8 (867), ngài Nghĩa huyền Thị Tịch Đệ Tử xây tháp để thờ áo bát của Ngài, gọi là tháp Lâm Tế Thiền Sư. Đến các đời Kim, Nguyên, tháp được trùng tu nhiều lần. Khoảng năm Thiên thuận (1457-1464) đời vua Anh tông nhà Minh, có đúc thêm Hồng Chung. Hiện này chùa có Phật Điện, tháp, Hồng Chung, v.v... Tháp được gọi là Thanh tháp, hình 8 góc, bằng gạch, 9 tầng, cao khoảng 100 thước.
II. Lâm Tế Tự. Chùa ở núi Viên sơn, Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm 1909. Chùa này nguyên là Đạo Tràng trọng yếu của tông Lâm tế, Nhật bản. Năm Dân quốc 34 (1945), được pháp sư Bản viên ở núi Quan âm tiếp quản. Về sau, có các sư: Thịnh mãn, Tâm ngộ, Bạch Thánh, v.v... lần lượt trụ trì, sửa sang, mở mang thêm mới có qui mô như ngày nay. Bắt đầu từ năm Dân quốc 71 (1982), chùa này là nơi họp hội nghị của Hội Tăng Già Phật giáo Thế Giới.
II. Lâm Tế Tự. Chùa ở núi Viên sơn, Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm 1909. Chùa này nguyên là Đạo Tràng trọng yếu của tông Lâm tế, Nhật bản. Năm Dân quốc 34 (1945), được pháp sư Bản viên ở núi Quan âm tiếp quản. Về sau, có các sư: Thịnh mãn, Tâm ngộ, Bạch Thánh, v.v... lần lượt trụ trì, sửa sang, mở mang thêm mới có qui mô như ngày nay. Bắt đầu từ năm Dân quốc 71 (1982), chùa này là nơi họp hội nghị của Hội Tăng Già Phật giáo Thế Giới.