Lâm Tế Tông

《臨濟宗》 lín jì zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Rinzai-shū: Tông Phái tôn Lâm Tế Nghĩa Huyền (, Rinzai Gigen) làm tổ, một trong Ngũ Gia Thất Tông () của Trung Quốc. Trải qua 11 đời từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Sanskrit: Bodhidharma, []) cho đến Nghĩa Huyền, từ đó trải qua 7 đời truyền thừa và xuất hiện Thạch Sương Sở Viên (). Môn hạ của Thạch SươngHoàng Long Huệ Nam ()Dương Kì Phương Hội (), từ đó phát sanh ra hai phái Hoàng Long (), Dương Kì (). Đối với Thiền Tông Trung Quốc, nếu thêm 2 phái này vào trong 5 Tông Phái Vân Môn (), Pháp Nhãn (), Tào Động (), Lâm Tế (), Quy Ngưỡng () thì gọi là Ngũ Gia Thất Tông. Trừ Phái Hoàng Long của Minh Am Vinh Tây (西) ra, Lâm Tế Tông đuợc truyền vào Nhật tất cả đều thuộc về hệ thống của Phái Dương Kì. Hàng cháu đời thứ 4 của Dương Kì Phương Hội có xuất hiện Viên Ngộ Khắc Cần (); thế rồi từ môn hạ của Viên Ngộ có Đại Huệ Tông Cảo ()Hổ Kheo Thiệu Long (), từ đó ra đời hai phái Đại Huệ () và Hổ Kheo (). Hơn nữa, từ môn hạ của Mật Am Hàm Kiệt ()—pháp hệ của Hổ Kheo—phát sinh dòng phái môn lưu của Tùng Nguyên Sùng Nhạc (), Phá Am Tổ Tiên () và Tào Nguyên Đạo Sanh (). Trước hết, người truyền thừa Thiền nhà Tống sang Nhật Bản Đầu tiên là Duệ Sơn Giác A (), vị tăng đã từng tham vấn Hạt Đường Huệ Viễn ()—pháp từ của Viên Ngộ Khắc Cần. Tiếp theo đó là Minh Am Vinh Tây (西), người đã sang nhà Tống lần thứ hai và kế thừa dòng pháp của Hư Am Hoài Sưởng (). Dòng pháp của Giác A bị dứt tuyệt; riêng Phái Hoàng Long () của Minh Am Vinh Tây vẫn kéo dài cho đến hiện tại thong qua hai chùa Thọ Phước Tự (, Jufuku-ji)Kiến Nhân Tự (, Kennin-ji). Người đồng thời đại với Vinh Tây là Đại Nhật Năng Nhẫn () thì trú tại Tam Bảo Tự (, Sampō-ji), Nhiếp Tân (, Settsu), nhân đọc các thư tịch Thiền mà độc ngộ, tự xưng là Đạt Ma Tông () và mở rộng giáo hóa khắp nơi, nhưng ông lại bị phê phán là “không thầy ngộ một mình”. Từ đó, ông giao phó cho Đệ Tử đem chỗ sở ngộ của ông sang nhà Tống trình lên cho Chuyết Am Đức Quang ()Đệ Tử của Đại Huệ Tông Cảo—để nhận Ấn Khả. Sau đó, môn lưu của ông được giáo đoàn của Vĩnh Bình Đạo Nguyên (, Eihei Dōgen) hấp thu rồi đi đến đoạn tuyệt. Thiên Hựu Tư Thuận (), v.v., sang nhà Tống cầu pháp, trải qua 13 năm trường, rồi được Ấn Khả của Kính Tẩu Cư Giản ()Đệ Tử của Chuyết Am Đức Quang, đến trú trì Thắng Lâm Tự () vùng Thảo Hà (), nhưng môn lưu của ông chẳng phát triển được chút nào. Viên Nhĩ ()—người theo học môn lưu của Vinh Tây, sang nhà Tống cầu pháp và đến tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm () thuộc Phái Phá Am—cũng trở về nước vào năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (), khai sáng Thừa Thiên Tự (, Shōten-ji)Sùng Phước Tự (, Sūfuku-ji) ở vùng Bác Đa (, Hakata), rồi kiến lập Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyōto, được hàng công võ quy y theo và Nỗ Lực xây dựng cơ sở để phát triển một Môn Phái lớn. Đạo Hựu () ở Diệu Kiến Đường () vùng Lạc Bắc (, Rakuhoku), Tánh Tài Pháp Thân ()—vị tổ Khai Sơn Viên Phước Tự () ở Tùng Đảo (, Matsushima), v.v., cũng là những người đồng môn của Viên Nhĩ. Kế đến, Vô Bổn Giác Tâm ()—vị tổ Khai Sơn Tây Phương Tự (西, Saihō-ji) ở Do Lương (), Kỷ Y (, Kii)—cũng đã từng được Thối Canh Hành Dũng (退), Đạo Nguyên (), Thiên Hựu Tư Thuận () động viên và sang nhà Tống cầu đạo, thọ pháp với Vô Môn Huệ Khai ()—người thuộc dòng phái của Đạo Giả Đạo Ninh (), nhân vật Huynh Đệ với Viên Ngộ Khắc Cần (), và trở về nước. Một loạt những người như vậy đều xuất thân từ hai tông Hiển Mật, đã truyền vào Nhật tôn giáo mới của nhà Tống để bổ sung thêm cho Phật Giáo cũ, nhưng lại mai danh ẩn tích ở các địa phương chứ không xuất hiện nơi chốn đô hội, và ý thức khai sáng giáo đoàn mới cũng rất mong manh. Tiếp theo, xuất hiện những vị tăng do vì tránh tình hình bất an dưới thời nhà Tống đã vượt biển sang Nhật Bản để tìm lẽ sống. Tỷ dụ như trường hợp của Lan Khê Đạo Long () sang Nhật vào năm thứ 4 (1246) niên hiệu Khoan Nguyên (). Sau khi sống qua Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) ở vùng Bác Đa và Tuyền Dũng Tự (, Senyū-ji) ở kinh đô Kyōto, Lan Khê xuống vùng Liêm Thương (, Kamakura), được Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (, Hōjō Tokiyori) quy y theo và làm tổ Khai Sơn Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji). Đó là cuộc truyền thừa Thiền thuần túy, thoát xác khỏi các tông Hiển Mật. Thêm vào đó, thông qua môi giới của Viên Nhĩ, có đồng môn Ngột Am Phổ Ninh () sang Nhật, nhờ sự hộ trì của Thời Lại; nhờ vậy Thiền Lâm Nhật Bản dần dần được chỉnh đốn, sản sinh ra nhiều môn đệ và các vị tăng Nhật Bản sang nhà Tống cầu pháp tăng thêm nhiều. Nam Phố Thiệu Minh () và Cự Sơn Chí Nguyên ()—những người truyền thừa dòng pháp của Phái Tùng Nguyên () cùng trở về nước, rồi Đại Hưu Chánh Niệm ()—đồng hàng Huynh Đệ với Vô Tượng Tĩnh Chiếu () cũng thuộc Phái Tùng Nguyên—quy quốc, được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (, Hōjō Tokimune) và anh em Tông Chính () quy y theo. Hơn nữa, đáp lời thỉnh cầu của Thời Tông, Tây Giản Tử Đàm (西) cũng đáp thuyền sang Nhật; nhưng sau khi Lan Khê Đạo Long Viên Tịch, ông lại trở về nước. Sau đó, có Vô Học Tổ Nguyên () và Kính Đường Giác Viên () sang Nhật. Được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông tín nhiệm và quy y theo, Vô Học trở thành tổ Khai Sơn của Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (, Kamakura). Giống như Vô Học và Kính Đường, có Tiều Cốc Duy Tiên ()—người thuộc Phái Tùng Nguyên—trở về nước và truyền trao dòng pháp mới. Trong khi đó, có vị tăng sang Nhật là Linh Sơn Đạo Ẩn (). Đến thời nhà Nguyên, có hai nhân vật làm sứ tiết hòa bình của hai triều Văn Vĩnh (), Hoằng An () và làm Thông Sự hướng dẫn cho Tây Giản Tử Đàm (西), là Nhất Sơn Nhất Ninh () và Đông Lí Đức Hội () của Phái Tào Nguyên () cũng sang Nhật. Tiếp theo đó, có mấy người thuộc Phái Tào Nguyên lên thuyền sang Nhật như Thanh Chuyết Chánh Trừng () theo lời thỉnh cầu của tướng quân Bắc Điều Cao Thời (, Hōjō Takatoki); Minh Cực Sở Tuấn (), Trúc Tiên Phạn Tiên (), v.v., theo lời mời của dòng họ Đại Hữu () ở vùng Phong Hậu (). Đồng môn với Trúc Tiên có Nguyệt Lâm Đạo Kiểu (), Thạch Thất Thiện Cửu () thì sang nhà Tống cầu pháp và trở về nước. Trong hệ thống Thiền nhà Nguyên, Tông Phong của các vị tăng theo Thiền Niệm Phật rất thịnh hành; vì mến mộ Tông Phong của Trung Phong Minh Bổn () trên Thiên Mục Sơn (), nên nhiều tăng sĩ Nhật Bản đã đến đây cầu pháp và trở về nước. Tỷ dụ như Viễn Khê Tổ Hùng (), Cổ Tiên Ấn Nguyên (), Phục Am Tông Kỷ (), Nghiệp Hải Bổn Tịnh (), Minh Tẩu Tề Triết (), Vô Ẩn Nguyên Hối (), Quan Tây Nghĩa Nam (西), v.v. Bên cạnh đó, còn có mấy người kế thừa dòng pháp của Thiên Nham Nguyên Trường ()Đệ Tử của Trung Phong—như Đại Chuyết Tổ Năng (), Bích Nham Vi Xán (). Những người cùng dòng pháp của Vạn Phong Thời Úy ()—người đồng môn với Đại Chuyết và Bích Nham—có Ẩn Nguyên Long Kỷ () thuộc Phái Hoàng Bá (). Tông Phong mang tính ẩn dật chính là đặc trưng dưới thời đại này. Giống như những người kế thừa Thiền Niệm Phật, môn hạ của Phái Phá Am () có Vô Văn Nguyên Tuyển ()—nhân vật kế thừa dòng pháp của Cổ Mai Chánh Hữu (), hay Tịch Thất Nguyên Quang ()Pháp Tôn của Lan Khê Đạo Long. Họ thọ nhận Tông Phong phái này, trở về nước và truyền bá khắp các địa phương. Về Phái Đại Huệ, Trung Nham Viên Nguyệt (), Đông Truyền Chánh Tổ (), Vô Sơ Đức Thỉ (), v.v., truyền bá dòng pháp mới; riêng Ngu Trung Châu Cập () thì truyền thừa dòng pháp của Tức Hưu Khế Liễu () và hình thành nên một phái mới. Xưa nay, những người cầu pháp ở ngoại quốc có 24 dòng, 46 dòng hay 59 dòng; trong đó trừ 4 dòng của Tào Động Tông (, Sōtō-shū) ra, còn lại 55 dòng thuộc về Lâm Tế Tông. Trong số những nhà Truyền Pháp thuộc các dòng này, trừ những người bảo trì Thiền Niệm Phật mang tính ẩn dật ra, đại bộ phận các môn lưu đều được hàng công võ quy y theo, thường sống tại 5 ngôi danh sát lớn ở kinh đô Kyōto, Liêm Thương (, Kamakura) và hình thành nên Phái Ngũ Sơn () với giáo đoàn phức hợp, đa dạng. Đó là hai chùa Kiến Nhân Tự (, Kennin-ji) cũng như Thọ Phước Tự (, Jufuku-ji) của Vinh Tây; Tịnh Diệu Tự (, Jōmyō-ji) của Thối Canh Hành Dũng (退); Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji) của Viên Nhĩ; Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji) của Lan Khê Đạo Long; Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) của Vô Học Tổ Nguyên; Tịnh Trí Tự (, Jōchi-ji) của Ngột Am Phổ Ninh () và Nam Châu Hoằng Hải (); Vạn Thọ Tự (, Manju-ji) của Đông Sơn Trạm Chiếu (); Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji) của Vô Quan Huyền Ngộ (); Thiên Long Tự (, Tenryū-ji)Tướng Quốc Tự (, Sōkoku-ji) của Mộng Song Sơ Thạch (), v.v. Ngoài Phái Ngũ Sơn chịu dưới sự quản chế của chính quyền Mạc Phủ, có xuất hiện Bạt Đội Đắc Thắng ()Từ Vân Diệu Ý ()Pháp Tôn của Vô Bổn Giác Tâm (), người đi về Bố Giáo ở các địa phương ngay từ ban đầu. Bạt Đội sáng lập Hướng Nhạc Tự (, Kōgaku-ji) ở vùng Giáp Phỉ (, Kai); còn Từ Vân thì khai sáng Quốc Thái Tự (, Kokutai-ji)Việt Trung (, Ecchū) và hình thành nên một dòng phái riêng. Ngoài ra, Vô Văn Nguyên Tuyển kiến lập Phương Quảng Tự (, Hōkō-ji) ở Áo Sơn (, Okuyama), Viễn Giang (). Tịch Thất Nguyên Quang là hàng Pháp Tôn của Lan Khê Đạo Long, không có mối quan hệ gì với Phái Ngũ Sơn, chuyên tâm giáo hóa ở các địa phương và xây dựng Vĩnh Quang Tự (, Eikō-ji) ở vùng Cận Giang (). Những Thiền tăng tại các địa phương có Ngu Trung Châu Cập thoát ly khỏi Phái Mộng Song của Ngũ Sơn; ông khai sáng Phật Thông Tự (, Buttsū-ji) ở An Nghệ (), được sự ủng hộ đắc lực của dòng họ Tiểu Tảo Xuyên () và hình thành giáo đoàn nhỏ. Tại trưng ương kinh đô, trong số những người không chịu sự thống chế của chính quyền Mạc Phủ có Tông Phong Diệu Siêu ()—môn hạ của Nam Phố Thiệu Minh (), vị tăng truyền dòng pháp của mình dưới Thời Đại Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn xuất hiện Đệ Tử của Tông Phong là Quan Sơn Huệ Huyền (). Tông Phong thì khai sáng Đại Đức Tự (, Daitoku-ji) ở vùng Tử Dã (, Murasakino); Quan Sơn thì kiến lập Diệu Tâm Tự (, Myōshin-ji) ở Hoa Viên (, Hanazono) và trở thành sơ tổ của chùa này.Cả hai thầy trò đều được Hoa Viên Pháp Hoàng (, Hanazono Hōkō) thâm tín quy y theo. Đối với Thiền Lâm Ngũ Sơn, những ngôi chùa Hướng nhạc, Quốc Thái, Phương Quảng, Vĩnh Nguyên, Phật Thông, Đại Đức, Diệu Tâm được gọi là Lâm Hạ Thiền Lâm (), vẫn duy trì Tông Phong từ ngàn xưa, khắc kỷ, đạm bạc mà không hề nhận sự ủng hộ của chính quyền Mạc Phủ. Chính nhân tài của Ngũ Sơn cũng lưu nhập vào hệ thống này, làm cho hưng thạnh; cuối cùng nhờ những nhà Đại Danh thời Chiến Quốc (, Sengoku) quy y theo, hơn nữa những ngôi chùa con ở các địa phương thuộc Phái Ngũ Sơn đã quy hướng về Phái Diệu Tâm Tự () của Quan Sơn. Cuộc biến động cải cách vào cuối thời nhà Minh và đầu nhà Thanh đã đưa đẩy Ẩn Nguyên Long Kỷ (), Đạo Giả Siêu Nguyên (), v.v., sang Nhật, đem lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với Thiền Lâm trong nước. Từ các phái nhỏ xuất hiện Cổ Nguyệt Thiền Tài (), Tuyệt Đồng Bất Nhị (), v.v., những nhân vật thuộc Phái Linh Vân () trong Diệu Tâm Tây Phái (西); cho nên các Tăng Đường ở địa phương được phục hưng và làm cho hồi phục quy cũ tu hành của tập đoàn. Thêm vào đó, từ Phái Thánh Trạch () trong Diệu Tâm Tây Phái lại xuất hiện Bạch Ẩn Huệ Hạc ()—người kế thừa dòng pháp của Đạo Kính Huệ Đoan (); nhờ vậy đã quét sạch những tệ hại lâu năm và vãn hồi được Tông Phong. Vào năm thứ 7 (1874) niên hiệu Minh Trị (, Meiji), qua bản cáo bố của Bộ Tuyên Giáo, hai tông Lâm Tế và Tào Động được độc lập. Đến năm thứ 9 cùng niên hiệu trên, từ Lâm Tế Tông, môn hạ của Ẩn Nguyên Long Kỷ cũng được độc lập với tên gọi là Hoàng Bá Tông (, Ōbaku-shū), trở thành thế chân vạc ba phái Thiền Tông. Trong những Bản Sơn (, Honzan, ngôi chùa tổ) các phái của Lâm Tế Tông có 14 phái với các chùa như Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji), Thiên Long Tự (, Tenryū-ji), Tướng Quốc Tự (, Sōkoku-ji), Kiến Nhân Tự (, Kennin-ji), Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji), Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (, Enkaku-ji), Đại Đức Tự (, Daitoku-ji), Diệu Tâm Tự (, Myōshin-ji), Hướng Nhạc Tự (, Kōgaku-ji), Quốc Thái Tự (, Kokutai-ji), Phương Quảng Tự (, Hōkō-ji), Vĩnh Nguyên Tự (, Eigen-ji) và Phật Thông Tự (, Buttsū-ji). Vị Quản Trưởng (, Kanchō) thống lãnh trong phái, đặt Đạo Tràng chuyên môn để đào tạo đàn hậu tấn.