Lại Da Tam Tạng

《賴耶三藏》 lài yé sān zàng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Thức A lại da có 3 nghĩa là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng. 1.Năng tàng: Nói theo sự quan hệ giữa thức A lại da và Chủng Tử, thức A lại da là cái nhỏ nhiệm, Sinh Diệt liên tục, không đầu cuối cũng không gián đoạn, có năng lực cất chứa, gìn giữ Chủng Tử của các pháp, không để mất mát, nên gọi là Năng tàng, còn Chủng Tử là Sở tàng(cái bị cất chứa).
2. Sở tàng: Nói theo sự quan hệ của 7 Chuyển Thức Năng Huân với thức A lại da sở huân, thì Năng Huân là Năng tàng, Sở huân là Sở tàng. Bảy Chuyển ThứcTác Dụng Hiện Hành các pháp, ngay trong Sát Na Hiện Hành, các thức ấy đã lại Huân Tập Chủng Tử mới vào trong thức A lại da, gọi là Tân huân Chủng Tử.
3. Chấp tàng: Thức A lại da là cái kho cất chứa tất cả Chủng Tử của các pháp do 7 Chuyển Thức Huân Tập vào. Thức này Sinh Diệt liên tục và vô cùng nhỏ nhiệm nên giống như 1 chủ thể thường hằng bất biến. Chính vì thế mà thức thứ 7 chấp lầm là thực ngã, đó là căn nguyên của Ngã Kiến. [X. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 2. phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).