Kỳ Đà Đại Trí

《祇陀大智》 qí tuó dà zhì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Gida Daichi, 1290-1366: vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, xuất thân Trường Khi (, Nagasaki), Vũ Thổ Quận (, Udo-gun), Phì Hậu (, Higo), biệt danh là Tổ Kế (, tuy nhiên cũng có thuyết cho rằng đây là nhân vật khác), sinh vào năm thứ 3 (1290) niên hiệu Chánh Ứng (). Năm lên 7 tuổi, ông xuống tóc Xuất Gia với Hàn Nham Nghĩa Duẫn ()Đại Từ Tự (, Daiji-ji), và được thầy đặt cho tên là Tiểu Trí (), nhưng ông lại tự đổi thành Đại Trí (). Sau khi Hàn Nham qua đời, ông đến Tham Học với Nam Phố Thiệu Minh (), Thích Vận (), v.v. ở Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji), rồi lại chuyển đến làm môn hạ của Oánh Sơn Thiệu Cẩn ()Đại Thừa Tự (, Daishō-ji) vùng Gia Hạ (, Kaga, thuộc Ishikawa-ken []). Nỗ Lực tu tập trong vòng 7 năm, ông lãnh hội được yếu chỉ của thầy. Đến năm thứ 4 (1311) niên hiệu Diên Khánh (), ông lại đến tham yết Đông Minh Huệ Nhật () khi vị này ở tại Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) vùng Tương Mô (, Sagami). Sau đó, ông sang Trung Quốc, Tham Học với một số vị tôn túc khác như Cổ Lâm Thanh Mậu (), Vân Ngoại Vân Tụ (), Trung Phong Minh Bổn (), Vô Kiến Tiên Đỗ (), v.v. Khi hồi hương, theo chiếu chỉ của vua Anh Tông, ông được đưa về nước bằng thuyền Trung Quốc. Nhân đó, ông làm bài kệ “vạn lý Bắc triều tuyên ngọc chiếu, Tam Sơn Đông Hải tống quy thuyền, hoàng ân chí hậu tương hà báo, nhất chú Tâm Hương chúc vạn niên (, ngàn dặm Bắc triều tuyên chiếu ngọc, Tam Sơn Đông Hải tiễn thuyền về, ơn vua quá nặng làm sao đáp, một nén hương lòng chúc vạn năm)” để bái tạ thâm ân của nhà vua. Khi về nước, ông liền đến tham yết Oánh Sơn ngay, và cuối cùng trở thành pháp từ của Trung Phong Tố Triết (). Về sau, ông làm ngôi thảo am ở Làng Cát Dã (), vùng Gia Hạ, không bao lâu thì trở thành ngôi Phạm Vũ với tên gọi là Sư Tử Sơn Kỳ Đà Tự (). Đến cuối đời, ông trở về vùng Phì Hậu (, Higo, thuộc Kumamoto-ken []), sống tại Phụng Nghi Sơn Thánh Hộ Tự (). Đến ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 21 (1366) niên hiệu Chánh Bình (, tức năm thứ 5 niên hiệu Trinh Trị []), ông Thị Tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Ông có để lại tác phẩm Đại Trí Thiền Sư Kệ Tụng () 1 quyển.