Kinh Quyển

《經卷》 jīng juǎn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Pustaka. Cuộn (trục) giấy có chép văn kinh, về sau chỉ chung cho kinh sách. Danh từ Kinh Quyển trong kinh Pháp hoa quyển 4 là chỉ cho sách vở. Tại Trung Quốc, mãi đến thời Bắc Tống mới có kinh bản xếp. Kinh Phật được viết trên giấy màu vàng, trục sơn màu đỏ, nên cũng gọi Hoàng Quyển Xích Trục (quyển vàng trục đỏ). Ngoài ra, cái bàn dùng để đọc tụng Kinh Điển, gọi là Kinh trác; kinh được viết trên đá, gọi là Kinh thạch; kinh được chôn trong đất, gọi là Kinh Trủng.