Kính
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Darpaịa. Gương dùng để soi. Theo luật Ma Ha Tăng Kỳ quyển 23, thì bình thường tỉ khưu không được dùng gương soi mặt, nhưng khi mới khỏi bệnh, vừa cạo tóc, hoặc khi trên đầu hay mặt có mụn nhọt, lở lói, thì được phép soi gương. Về sau, gương cũng được dùng để Trang Nghiêm Phật đường hoặc Quang bối(vòng hào quang sau lưng tượng Phật). Trong Mật giáo, gương còn được gọi là Huyền kính(gương treo), Đàn kính(gương bày trên đàn), Bảo Kính (gương báu), v.v... Trong Kinh Điển, minh kính (gương sáng) thường được dùng để biểu thị cho đức Pháp Thân Thanh Tịnh; trong Ngũ Trí, kính tương đương với Đại Viên Kính Trí. Thiền Tông cũng thường dùng kính hoặc minh kính để ví dụ ai ai cũng có sẵn Phật Tính, bởi vì tâm của người ta vốn trong sạch sáng láng, cũng như tấm gương vậy. Trong Tùng Lâm, ở chỗ ngồi Thiền, thường treo tấm gương sáng để giúp cho việc Quán Tâm.