Kim Thiềm
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có hai nghĩa. (1) Con cóc sắc màu vàng kim. Như trong bài thơ Đề Bắc Bình Chiểu (題北平沼) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có câu: “Bảo chi thường tại tri thùy đắc, hảo giá Kim Thiềm nhập Thái Hư (寶芝常在知誰得、好駕金蟾入太虛, nấm báu ở đó ai biết được, khéo cỡi cóc vàng lên không trung).” Hay trong bài thơ Thường Nga Đồ (嫦娥圖) của Hà Cảnh Minh (何景明, 1483-1521) nhà Minh lại có câu: “Ngọc vũ quỳnh lâu bế tảo thu, Kim Thiềm ngân sắc đề hàn dạ (玉宇瓊樓閉早秋、金蟾銀兔啼寒夜, nhà ngọc lầu son đóng sớm thu, cóc vàng màu bạc khóc đêm lạnh).” (2) Tên gọi khác của mặt trăng. Truyền thuyết thần thoại cho rằng trong mặt trăng có con cóc, nên gọi như vậy. Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 11, có câu: “Kim Thiềm sơ xuất hải, hà xứ bất phân minh (金蟾初出海、何處不分明, mặt trăng ló khỏi biển, chốn nào chẳng sáng soi).”