Khuyết Quá
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi: Khuyết giảm quá, Khuyết giảm. Đối lại: Chi Quá. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Lỗi do sự trình bày không đầy đủ ý nghĩa. Tức là lỗi vì không có lời trình bày(Ngôn Trần)hoặc có lời trình bày mà nghĩa lí không đầy đủ, không bao quát. Lỗi này có thể chia làm 2 loại:
1. Vô thể khuyết: Chỉ mới trình bày phần Tông(mệnh đề)chứ chưa nói đến Nhân (lí do)và Dụ(Đồng Dụ và Dị Dụ). Tức là luận thức chưa đầy đủ, đối phương không hiểu được ý của người lập luận. Đây là thuyết Nhân Minh cũ.
2. Hữu Thể khuyết: Khi lấy ba tướng của Nhân làm pháp Năng Lập tuy nói 3 tướng, nhưng nếu thiếu 1 tướng đầu, hoặc thiếu 2 tướng sau, hay thiếu cả 3 tướng thì gọi là Tướng thiểu khuyết. Còn khi lấy Nhân và 2 Dụ(Đồng Dụ, Dị Dụ) làm Pháp Năng Lập, tuy có trình bày về thể của chúng nhưng thiếu 1, 2 hoặc cả 3 thì gọi là Nghĩa thiểu khuyết. Đây là thuyết của Nhân Minh mới. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng].
1. Vô thể khuyết: Chỉ mới trình bày phần Tông(mệnh đề)chứ chưa nói đến Nhân (lí do)và Dụ(Đồng Dụ và Dị Dụ). Tức là luận thức chưa đầy đủ, đối phương không hiểu được ý của người lập luận. Đây là thuyết Nhân Minh cũ.
2. Hữu Thể khuyết: Khi lấy ba tướng của Nhân làm pháp Năng Lập tuy nói 3 tướng, nhưng nếu thiếu 1 tướng đầu, hoặc thiếu 2 tướng sau, hay thiếu cả 3 tướng thì gọi là Tướng thiểu khuyết. Còn khi lấy Nhân và 2 Dụ(Đồng Dụ, Dị Dụ) làm Pháp Năng Lập, tuy có trình bày về thể của chúng nhưng thiếu 1, 2 hoặc cả 3 thì gọi là Nghĩa thiểu khuyết. Đây là thuyết của Nhân Minh mới. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng].