Khang Cư Quốc
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tên một nước xưa ở Tây vực, do dân tộc du mục Thổ nhĩ kì kiến lập, chạy dài từ hạ lưu sông Tích nhĩ đến đồng bằng Kirgif. Cứ theo Tiền Hán thư Tây vực truyện 66, thượng, thì nước Khang cư có 5 vị tiểu vương chia nhau cai trị 5 thành là: Thành Tô giới,(nước Sử) thành Phụ mặc(nước Cư sương nễ ca), thành Dũ nặc(nước Thạch), thành Kế(nước An)và thành Áo kiện(nước Hóa lợi tập di). Căn cứ vào đó ta có thể biết được là đến đời Hán lãnh thổ nước Khang cư đã mở rộng đến vùng Túc đặc(Sogdiana), Tháp thập hãn (Tashkend) và Hỏa tầm (Khiva) ở phía nam. Lại cứ theo Ngụy thư tây vực liệt truyện 90, thì nước Khang, nước Thiệt đều có sau nước Khang cư, cho nên, vào thời Nam Bắc Triều, nước Khang cư có thể đã bị diệt vong. Khang cư cũng là 1 trong những nơi phát xuất sớm nhất của Phật giáo Trung Quốc. Cứ theo Xuất Tam Tạng kí tập quyển 2 và Lương Cao Tăng Truyện quyển 1, thì từ đời Đông Hán về sau, các vị Danh Tăng như: Khang Tăng Hội, Khang cự, Khang Mạnh Tường, Khang Tăng Khải, v.v... đã lần lượt đến Trung Quốc Phiên Dịch kinh Phật đều là người Khang cư hoặc tổ tiên các ngài là người Khang cư. Tuy nhiên, có thể những vị Danh Tăng kể trên không phải là người nước Khang cư của dân tộc du mục mà là người nước Khang thuộc chủng tộc Túc đặc (Sogdiana) ở phía nam, cũng tức là nước Khang ở vùng Tán mã nhĩ can (Samarkand). Bởi vì thời bấy giờ người Tây vực thường dùng tên nước mình làm họ, cho nên dễ lẫn lộn giữa nước Khang cư và nước Khang. [X. Sử kí đại uyển liệt truyện 63; Đường thư tây vực liệt truyện 146; Đại Đường Tây Vực Kí; tiết 2 chương 3 trong Tây vực chi Phật giáo (Vũ khê Liễu đế)].