Khai Nguyên Thích Giáo Lục

《開元釋教錄》 kāi yuán shì jiào lù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Khai nguyên lục, Khai nguyên Mục Lục, Trí thăng lục. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Trí thăng soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần:
I. Tổng quát quần kinh lục (từ quyển 1 đến quyển 10) tương đương với Đại lục. Phần này theo thứ tự thời gian Phiên Dịch, bắt đầu từ năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Minh Đế nhà Đông Hán, đến năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường khoảng 664 năm, có 176 dịch giả dịch được 2278 bộ kinh, luật, luận Đại Tiểu Thừa, gồm 7046 quyển. Trong đó, những tư liệu liên quan đến những bộ kinh đã dịch được sưu tập rất đầy đủ, bao quát cả tên gọi khác, tên gọi tắt, số lượng quyển, kinh còn hay mất, tên Tác Giả, niên đại Phiên Dịch, nơi Phiên Dịch và những người có liên quan đến việc Phiên Dịch những bộ kinh đó. Ngoài ra, còn Phân Biệt những kinh có bản dịch và mất bản dịch, dịch một lần và dịch nhiều lần, Đại Kinh và kinh Biệt sinh, v.v... Phần Đại lục này là do kế thừa các bộ Lịch Đại Tam Bảo Kỉ và Đại Đường Nội Điển Lục mà có.
II. Biệt phần thừa Tạng Lục (từ quyển 11 đến quyển 20), phần này phỏng theo cách phân loại Mục Lục của Pháp Kinh lục, tương đương với các bộ Tiêu chuẩn Nhập Tạng Mục Lục và Hiện tạng Nhập Tạng Mục Lục. Phần Biệt phần thừa Tạng Lục này lấy kinh làm chính, chia ra 7 loại:
1. Hữu dịch hữu bản lục: Có tên người dịch, có bản dịch (quyển 11 đến 13).
2. Hữu dịch vô bản lục: Có tên người dịch, nhưng không có bản dịch (quyển 14 đến 15).
3. Chi phái Biệt Hành lục: Những Bản Kinh lưu hành riêng có tính chi phái (quyển 16).
4. San lược phồn trùng lục: Lược bỏ chỗ rườm rà trùng lập (quyển 17).
5. Bổ khuyết thập di lục: Thêm vào những chỗ còn thiếu sót (quyển 17).
6. Nghi Hoặc tái tường lục: Giải thích lại một cách rõ ràng những chỗ Nghi Hoặc (quyển 18).
7. Ngụy vọng loạn chân lục: Mục Lục các Bản Kinh được ngụy tạo (quyển 18). Còn 2 quyển cuối cùng là Mục Lục của 1076 bộ Kinh Điển Đại Tiểu Thừa gồm 5048 quyển được đưa vào Tạng. Xưa nay có câu: Tất cả hơn 5000 quyển kinh là bắt nguồn từ đó. Trên đây, trong phần Hữu dịch hữu bản lục, các kinh Đại Thừa được chia làm 5 bộ lớn là: Bát Nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết Bàn và có chú thích rõ ràng về trường hợp dịch một lần hay dịch nhiều lần. Phương pháp này đã được những người biên tập Mục Lục Đại Tạng Kinh đời sau noi theo. Và để đề phòng sự lầm lẫn, ngài Trí thăng còn dùng Thiên tự văn để ghi số hiệu Mục Lục được Nhập Tạng của bộ sách này và biên soạn thành Khai Nguyên Thích Giáo Lục lược xuất 4 quyển. Từ đời Tống trở về sau, bộ Lược xuất này là chỗ y cứ cho việc khắc in số hiệu của Đại Tạng Kinh. Khai Nguyên Thích Giáo Lục ghi chép các việc rất đầy đủ và rõ ràng, là khuôn mẫu cho các bộ Kinh lục và sự tổ chức Đại Tạng Kinh đời sau. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), ngài Viên chiếu soạn thêm 3 quyển để nối theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục và lấy tên là Đại Đường Trinh Nguyên Tục Khai Nguyên Thích Giáo Lục. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 5.; Trinh nguyên tân định Thích Giáo Mục Lục Q. 14., Q. 19.].