Huyền Sa Sư Bị

《玄沙師僃》 xuán shā shī bèi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Gensha Shibi, 835-908: người Huyện Mân (, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Tạ (). Hồi còn nhỏ ông rất thích câu cá, nhưng có một ngày nọ vào năm đầu niên hiệu Hàm Thông (), ông bỗng nhiên phát tâm, đến tham kiến Linh Huấn () ở Phù Dung Sơn (), Phúc Châu () và xin xuất gia. Vào mùa xuân năm thứ 5 (864) cùng niên hiệu trên, ông thọ cụ túc giới với Luật Sư Đạo Huyền () của Khai Nguyên Tự () thuộc Dự Chương Sơn (, thuộc Tỉnh Giang Tây). Vào mùa thu năm nầy, ông trở về quê cũ, chuyên tâm tu hành; và vào năm thứ 7 cùng niên hiệu trên, ông đến tham yết Nghĩa Tồn () ở Tuyết Phong Sơn () và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Với phong cách hành trì giới luật nghiêm khắc của mình, ông được tôn xưng là Bị Đầu Đà, thêm vào đó vì ông là con trai thứ ba của nhà họ Tạ, nên còn được gọi là Tạ Tam Lang. Ông dựng thảo am trên Phổ Ứng Sơn (), rồi lại đến trú tại Huyền Sa Viện () của vị quan Huyện họ Hầu (). Vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (), ông đến trú ở An Quốc Viện (). Vua Chiêu Tông () ban cho ông hiệu là Tông Nhất Đại Sư (). Ông thị tịch vào ngày 27 tháng 11 năm 2 (908) niên hiệu Khai Bình (), hưởng thọ 74 tuổi đời và 45 hạ lạp. Bộ Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục (, 3 quyển), Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (, 3 quyển) được biên soạn thành. Môn hạ của ông có La Hán Quế Sâm (), Quốc Thanh Sư Tĩnh (), v.v.