Huyền Cơ

《玄機》 xuán jī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa khác nhau. (1) Ý trời, thiên cơ. Như trong Trần Thư (), chương Cao Tổ Kỷ Hạ (), có câu: “Cao Tổ nãi đạo Huyền Cơ nhi phủ mạt vận (, vua Cao Tổ bèn theo ý trời mà an ủi mạt vận).” Hay trong hồi thứ nhất của Hồng Lâu Mộng () cũng có câu: “Thử nãi Huyền Cơ, bất khả dự tiết (, thiên cơ thế này, không thể tiết lộ).” (2) Nghĩa lý vi diệu, thâm áo. Như trong bài thứ 3 của Đạo Gia Tứ Thủ Phụng Sắc Soạn () do Trương Thuyết (, 667-730) nhà Đường sáng tác có câu: “Kim Lô thừa đạo quyết, Ngọc Điệp khải Huyền Cơ (, lò vàng vâng bí quyết, điệp ngọc mở lý mầu).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 18, phần Đối Cơ Môn (), Hàng Châu Phật Nhật Sơn Trí Tài Thiền Sư Pháp Từ (), lại có đoạn: “Bất tu biện vọng cầu chơn, bất dụng tị huyên thủ tĩnh, Nhân Nhân cảo nhật đương không, xứ xứ Huyền Cơ độc hồi (, chẳng nên bỏ vọng tìm chân, không cần lánh ồn lấy tĩnh, người người trời sáng trên không, chốn chốn Huyền Cơ hiện rõ).” Hoặc trong bài tựa của Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (, Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 1, cũng có câu: “Toát Huyền Cơ ư chưởng ác, phát diệu nghĩa ư ngôn tiền (, nắm Huyền Cơ nơi bàn tay, phát diệu nghĩa nơi lời nói).”