Huyền

《玄》 xuán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa khác nhau. (1) Trong Dịch Kinh (), chương Khôn (), có câu: “Thiên huyền nhi địa hoàng (, trời đen mà đất vàng).” Khổng Dĩnh Đạt (, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thiên sắc huyền, địa Sắc Hoàng (, trời màu đen huyền, đất màu vàng).” Về sau, từ huyền được dùng để chỉ cho trời. (2) Chỉ cho phương Bắc, thuộc về hướng Bắc. (3) Thâm áo, huyền diệu. Như trong Lão Tử () có câu: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn (, thâm áo lại càng thâm áo, cửa của các mầu nhiệm).” Lão Tử còn cho “huyền chi hựu huyền” là đạo (); nhân đó sau này tư tưởng này trở thành học thuyết của Đạo gia. Hay trong tác phẩm Ngũ Quân Vịnh (), phần Hướng Thường Thị (), của Nhan Duyên Chi (, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều, lại có đoạn: “Thám đạo háo uyên huyền, quán thư bỉ chương cú (, tìm đạo thích thâm áo, xem sách ghét câu chữ).” (4) Chỉ đạo lý thâm áo, huyền diệu. (5) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc dùng từ này để chỉ cho Bản Thể của vũ trụ. Như trong tác phẩm Thái Huyền (), phần Ly (), của Dương Hùng (, 53-18 ttl.) nhà Hán, có đoạn: “Huyền giả, u ly vạn loại nhi bất kiến hình giả dã (, huyền [Bản Thể vũ trụ] nghĩa là trùm khắp muôn loài mà không thấy hình vậy).”