Hùng Trạch Phiên Sơn

《熊澤蕃山》 xióng zé fān shān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kumazawa Banzan, 1619-1691: Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Bá Kế (); tự Liễu Giới (); hiệu Tức Du Hiên (); thông xưng là Thứ Lang Bát (); xuất thân kinh đô Kyoto; tên gọi Phiên Sơn () vốn phát xuất từ Thôn Phiên Sơn (), Bị Tiền (, Bizen), nơi ông lui về ẩn cư. Năm 1634 (Khoan Vĩnh [] 11), ông phục vụ cho Trì Điền Quang Trí (), Phiên chủ của Phiên Cương Sơn (, Okayama-han), nhưng vì tu học chưa thuần thục, nên lấy lý do đó mà từ chức, rồi theo học với Trung Giang Đằng Thọ (, Nakae Tōju). Vào năm 1645 (Chánh Bảo [] 2), ông trở lại phục vụ cho Quang Trí và đã cống hiến những đối sách cứu nạn đói vào năm Minh Lịch () cũng như trị sơn, trị thủy, v.v. Sau đó, vào năm 1657 (Minh Lịch 3), ông lui về ẩn cư, chuyên tâm giảng dạy và trước tác ở kinh đô và các nơi khác; nhưng đến năm 1687 (Trinh Hưởng [] 4), ông bị chính quyền Mạc Phủ kiêng kỵ vì phê phán chính trị, rồi bị cấm cố ở vùng Cổ Hà (, Koga), Hạ Tổng (, Shimōsa) và cuối cùng qua đời tại đây. Ông vốn là môn hạ của Đằng Thọ, nhưng Chu Tử Học hay Dương Minh Học, ông chẳng thuộc học phái nào cả; mà chủ Trương Thuyết gọi là Tâm Học (), cho rằng tâm là căn nguyên của vạn vật, đồng nhất với Thái Hư, và cần phải thể Đắc Đạo lý vốn có trong tâm này. Trước tác của ông có Tập Nghĩa Hòa Thư (), Tập Nghĩa Ngoại Thư (), Đại Học Hoặc Vấn (), Tam Luân Vật Ngữ (), v.v.