Hư Cốc Hy Lăng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Hikoku Kiryō, 1247-1322: vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Hư Cốc (虛谷), tự là Tây Bạch (西白), xuất thân vùng Nghĩa Ô (義烏), Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), họ là Hà (何). Năm 19 tuổi, ông Xuất Gia rồi thọ Cụ Túc Giới ở Đông Dương Tư Thọ Viện (東陽資壽院). Ông đã từng đến tham yết Hư Chu Viễn (虛舟遠) ở Song Lâm Tự (雙林寺), rồi Đông Tẩu Trọng Dĩnh (東叟仲頴). Sau đó ông kế thừa dòng pháp của Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽), đến năm thứ 3 (1316) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông đến ở tại Kính Sơn, Hàng Châu. Ông được mời vào cung nội, rồi được Thế Tổ ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師), sau đó lại được ban tặng những Danh Hiệu khác như Đại Viên (大圓), Huệ Chiếu (慧照), Đại Biện (大辯). Đến ngày 12 tháng 4 năm thứ 2 niện hiệu Chí Trị (至治), ông Thị Tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 57 Pháp Lạp. Tương truyền ông có trước tác bộ Ngữ Lục, Bộc Nham Tập (瀑巖集). Ngu Tập (虞集) soạn bài minh cho tháp của ông.