Hoàng Long Phái

《黃龍派》 huáng lóng pài

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ōryū-ha: một phái trong Ngũ Gia Thất Tông của Thiền Trung Quốc. Đến giữa thời Bắc Tống, trong Lâm Tế Tông của Trung Quốc có xuất hiện hai nhân vật kiệt xuất thuộc môn hạ của Thạch Sương Sở Viên ()Hoàng Long Huệ Nam ()Dương Kì Phương Hội () từ đó làm cho Tông này hưng thạnh lên. Vào năm thứ 3 (1036) niên hiệu Cảnh Hựu (), Huệ Nam đến trú tại Hoàng Long Sơn () thuộc Phủ Long Hưng (, Tỉnh Giang Tây ngày nay), Nỗ Lực làm cho Thiền Phong hưng hiển, rồi dần dần môn hạ của ông có những nhân vật nổi danh ra đời như Chơn Tịnh Khắc Văn (), Đông Lâm Thường Thông (), Hối Đường Tổ Tâm (), v.v.; ông mở rộng giao tiếp với tầng lớp văn nhân sĩ phu đương thời, lập thành một phái riêng biệt lấy Tỉnh Triết Giang làm trung tâm hoạt động truyền bá, và dần dần được gọi là Hoàng Long Phái. Chính những người trong Hoàng Long Phái này đã cống hiến rất lớn trong việc thành lập Đại Tạng Kinh bản đời Tống. Sau đó, môn hạ của Chơn Tịnh Khắc Văn còn có Đâu Suất Tùng Duyệt (), Lặc Đàm Văn Chuẩn (), Huệ Nhật Văn Nhã (), v.v. Còn Đệ Tử của Hối Đường Tổ Tâm thì có Tử Tâm Ngộ Tân (), Linh Nguyên Duy Thanh (), Lặc Đàm Thiện Thanh (), v.v. Vinh Tây của Nhật Bản sang Tống cầu pháp, đến tham yết Hư Am Hoài Sưởng (), kế thừa dòng pháp của vị này, và lần đầu tiên truyền thừa dòng Thiền của Hoàng Long Phái sang Nhật Bản. Tông Lâm Tế thì hưng thạnh một cách áp đảo ở vùng Nam Tống, còn Hoàng Long Phái thì dần dần đi đến suy thối.