Hoàng Bá Hy Vận
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Ōbaku Kiun, ?-?: người Huyện Mân (閩縣, thuộc Phúc Châu, Tỉnh Phúc Kiến). Ông xuất gia ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), Phúc Châu (福州), sau đó lên ngao du trên Thiên Thai Sơn, rồi theo làm đệ tử của Hoài Hải (懷海) ở Bách Trượng Sơn (百丈山, thuộc Tỉnh Giang Tây) và đắc được huyền chỉ của vị nầy. Sau ông đến trú tại Đại An Tự (大安寺) và tập trung được khá nhiều đệ tử theo tu học. Hơn nữa, thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休), ông đến vùng Chung Lăng (鍾陵, thuộc Tỉnh Giang Tây), rồi do vì nhớ đến núi xưa nơi mình đã từng cư ngụ, ông đặt tên nơi đây là Hoàng Bá Sơn và trở thành tổ Khai Sơn tại đây. Kể từ đó môn phong Hoàng Bá mỗi ngày một rực rỡ thêm lên. Về sau, vào năm thứ 2 (842) niên hiệu Hội Xương (會昌), ông chuyển đến Long Hưng Tự (龍興寺), rồi năm thứ 2 (848) niên hiệu Đại Trung (大中) thì đến Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Uyển Lăng (宛陵, thuộc Tỉnh An Huy). Vào khoảng năm thứ 10 (856) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch. Đệ tử của ông có Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), vị tổ khai sáng ra Lâm Tế Tông Trung Quốc. Truyền Tâm Pháp Yếu (傳心法要) là tập pháp ngữ của ông do Bùi Hưu thâu lục nên. Ông được ban cho thụy hiệu là Đoạn Tế Thiền Sư (斷際禪師).