Hải Vân Ấn Giản

《海雲印簡》 hǎi yún yìn jiǎn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kaiun Inkan, 1202-1257: vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hải Vân (), người vùng Ninh Viễn (, Tỉnh Tứ Xuyên), họ Tống (). Năm lên 7 tuổi, ông được cha giảng nghĩa Hiếu Kinh cho nghe, sau ông theo Xuất Gia với Trung Quán Chiểu (), đến năm 11 tuổi thọ Cụ Túc Giới và chuyên tâm Tham Học. Khi thầy mình qua đời, ông đến tham yết Trung Hòa Chương () ở Đại Khánh Thọ Tự (), Yến Kinh (, tức Bắc Kinh) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu, ông Hóa Đạo tại Nhân Trí () thuộc Hưng Châu (, Tỉnh Sơn Tây), sau đó từng sống qua các nơi như Hưng Quốc () ở Lôi Dương (), Vĩnh Khánh () ở Hưng An (), cuối cùng trở về Đại Khánh Thọ Tự. Ông đã từng quy y cho triều đình nhà Nguyên, đến năm thứ 9 (1237) đời vua Thái Tông, ông được ban cho hiệu là Quang Thiên Trấn Quốc Đại Sĩ (). Vào năm thứ 11 cũng đời vua trên, ông lại quay về Đại Khánh Thọ Tự, rồi đến năm đầu (1242) đời vua Thoát Liệt Ca Na (), ông trả lời những vấn nạn của Hộ Tất Liệt () và khẳng định rõ tính ưu việt của Phật Giáo hơn Đạo Giáo. Từ đó trở đi, thỉnh thoảng ông có trả lời những nan giải của triều đình, cho nên vua Định Tông cho ông nhậm chức Tăng Lục (). Tại Hạo Thiên Tự (), ông làm lễ cầu nguyện cho quốc gia được thái bình, sau đó ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Tự () ở Hòa Lâm (, Tỉnh Sơn Tây). Vào tháng giêng năm thứ 4 (1256) niên hiệu Bảo Hựu (), ông vâng mệnh hoàng triều mở Pháp Hội tại Hạo Thiên Tự. Đến ngày mồng 4 tháng 4 nhuận năm thứ 5 (1257) cùng niên hiệu trên, ông Thị Tịch, hưởng thọ 56 tuổi, được ban cho Thụy HiệuPhật Nhật Viên Minh Đại Sư ().