Duy Thức Tam Tính Quán

《唯識三性觀》 wéi shí sān xìng guān

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tức là pháp quán ba tính: Biến Kế Sở Chấp Tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính của Duy Thức. Cũng gọi Tam tính quán hạnh, Duy Thức quán, Duy Thức Tâm Định. Để hiển bày thực tính của Duy Thức, luận Thành Duy Thức quyển 9 căn cứ vào ba tính mà lập hai thứ tương đối là Chân Vọng và Chân tục, tức: Biến kế là Tính Duy Thức Hư Vọng, Y tha là Tính Duy Thức Thế Tục, Viên thành là Tính Duy Thức chân thực. Như Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Kí quyển thượng giải thích: Tính Biến kế sở chấp là thức Hư Vọng; tính Y tha khởi thì chẳng phải có mà dường như có, là do Nhân Duyên sinh, cho nên là thức của Nhân Duyên, tức là tướng của thức; tính Viên thành thực là thức chân thực, tức là tính của thức. Ba tính của cảnh sở quán thông với ba Tính Duy Thức, vì thế gọi là Duy Thức Tam Tính Quán. Tu pháp Duy Thức Tam Tính Quán này, từ cạn đến sâu có năm lớp:
1. Khiển hư tồn thực thức (bỏ thức hư giả, giữ lại thức chân thực): Quán Hư Vọng để trừ bỏ sở chấp, giữ lại cái thực của hai tính Y tha, Viên thành : Đây là pháp quán hư thực đối nhau.
2. Xả lạm lưu thuần thức (Bỏ thức tạp nhạp, giữ lại Thức Tinh thuần), tức là pháp Quán Tâm, cảnh đối nhau.
3. Nhiếp mạt qui bản thức (đưa thức ngọn về thức gốc), tức là pháp quán thể, dụng đối nhau.
4. Ẩn liệt hiển thắng thức (ẩn kín thức kém, hiển bày thức hơn) tức là pháp Quán Tâm, Tâm Sở đối nhau.
5. Khiển tướng chứng tính thức (bỏ tướng mà chứng tính của thức), là sự, lí đối nhau, đến đây là tột bậc của pháp quán Duy Thức. (xt. Tam Tính, Ngũ Trùng Duy Thức).