Độc Lễ

《讀禮》 dú lǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa chính: (1) Học tập lễ tiết. Như trong Tuân Tử (), phần Khuyến Học () có câu: “Thỉ hồ tụng kinh, chung hồ Độc Lễ (, trước hết là tụng kinh, sau cùng học lễ tiết).” Hay trong Hạc Lâm Ngọc Lộ () quyển 5 của La Đại Kinh (, 1196-1242) nhà Tống có đoạn: “Nhi học hiệu chi sở giảng, phùng dịch chi sở đàm, kỉ hữu nhược đồ nhi chi lễ Phật, xướng gia chi Độc Lễ giả, thị khả thán dã (, vậy trường học được giảng, Nho học được luận bàn, có mấy kẻ đồ tể đến lễ Phật, bao nhà điếm học lễ nghi, thật đáng buồn thay).” (2) Người xưa trong thời gian cư tang tại nhà, thường đọc những thư tịch lễ nghi liên quan đến việc Tang Tế, vì vậy cư tang còn được gọi là Độc Lễ. Như trong Lễ Ký (), phần Khúc Lễ () có giải thích rằng: “Cư tang vị táng, độc tang lễ; ký táng, độc tế lễ (, thời gian cư tang chưa an táng thì đọc sách Tang Lễ, đã an táng rồi thì đọc sách Tế Lễ).” Sau này có vài tác phẩm liên quan đến Độc Lễ như Độc Lễ Nhật Tri (), 2 quyển, do Kim Chiết (, ?-?) nhà Minh soạn; hay Độc Lễ Thông Khảo (), 120 quyển, của Từ Càn Học (, 1631-1694) nhà Thanh, v.v. Trong Tam Giáo Bình Tâm Luận (, Taishō Vol. 52, No. 2117) quyển Thượng có câu: “Tăng can triều hiến, Ni phạm tục hình, thí tụng Luật nhi xuyên du, như Độc Lễ nhi kiêu cứ (穿, Tăng làm sai hiến pháp triều đình, Ni thì vi phạm hình phạt Thế Tục, giống như tụng Luật mà đào tường (trộm cắp), đọc lễ nghi mà kiêu ngạo).”