Đề Hồ

《醍醐》 tí hú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: maṇḍa, sarpir-maṇḍa, Pāli: maṇḍa sappi-maṇḍa: (1) chỉ loại dầu tinh chất được chế thành từ ván sữa; màu vàng trắng, đem làm bánh, rất ngọt và béo; (2) chỉ cho một loại rượu ngon; (3) là một trong 5 vị, tức sữa, cạo sữa, ván sữa sống, ván sữa chín và Đề Hồ; nên có tên gọi là Đề Hồ Vị (); (4)Đề Hồ là vị ngon nhất trong các loại sữa, nên Phật Giáo dùng để chỉ Niết Bàn, Phật tánh, giáo lý Chân Thật. Trong Kinh Điển Hán dịch của Phật Giáo Trung Quốc thời kỳ đầu, Đề Hồ có nghĩa là “Bản Chất, tinh túy.” Ngoài ra, Đề Hồ còn được dùng như là một phương thuốc chữa bệnh; như trong chương Tây Vức (西) của Ngụy Thư () có đoạn: “Tục tiễn phát tề mi, dĩ Đề Hồ đồ chi, dục dục nhiên Quang Trạch, nhật tam tháo thấu, nhiên hậu Ẩm Thực (, có tục lệ cắt tóc xén lông mày, lấy Đề Hồ thoa lên, hong nắng ánh sáng, một ngày tắm giặt ba lần, sau đó mới ăn uống).” Quyển 596 của Toàn Đường Văn (), bài Tống Thái Chiểu Hiếu Liêm Cập Đệ Hậu Quy Mân Cận Tỉnh Tự () của Âu Dương Chiêm (, 756-798) lại có đoạn rằng: “Phanh nhũ vi Đề Hồ, đoán kim vi càn tương, dự kỳ phanh đoán dĩ biến hóa (, nấu sữa thành Đề Hồ, nung vàng làm kiếm tốt, chờ đợi lúc nấu và rèn biến hóa).” Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh () quyển 1 có giải thích rằng: “Khế Kinh như nhũ, Điều Phục như lạc, Đối Pháp Giáo giả như bỉ sanh tô, Đại Thừa Bát Nhã do như thục tô, Tổng Trì Môn giả thí như Đề Hồ. Đề Hồ chi vị, nhũ, lạc, tô trung vi diệu đệ nhất, năng trừ chư bệnh, linh Chư Hữu tình thân tâm An Lạc. Tổng Trì Môn giả, Khế Kinh đẳng trung tối vi đệ nhất, năng trừ trọng tội, linh chư Chúng Sanh giải thoát Sanh Tử, tốc chứng Niết Bàn An Lạc Pháp Thân (調, Khế Kinh như sữa, Điều Phục như cạo sữa, giáo lý Đối Pháp giống như ván sữa sống, Bát Nhã Đại Thừa như ván sữa chín, Tổng Trì Môn ví như Đề Hồ. Vị của Đề Hồ vi diệu số một trong các loại sữa, cạo sữa, ván sữa; có thể trừ các bệnh, khiến cho thân tâm Chúng Hữu tình được An Lạc. Tổng Trì Môn là số một trong Khế Kinh, v.v., có thể trừ các tội nặng, khiến các Chúng Sanh giải thoát Sanh Tử, mau chứng Niết Bàn, Pháp Thân An Lạc).” Do vì Đề Hồ được xem như là giáo lý tối thượng, Phật tánh, v.v.; cho nên xuất hiện thuật ngữ “Đề Hồ Quán Đảnh ()” để ví dụ cho việc lấy giáo pháp tối thượng giúp người Hành Trì để chuyển hóa Vô Minh, Phiền Não và đạt được mát mẻ, An Lạc. Như trong bài thơ Hành Lộ Nan () của Cố Huống (, 725-814) có câu: “Khởi tri quán đảnh hữu Đề Hồ, năng sử thanh lương đầu bất nhiệt (使, sao biết quán đảnh có Đề Hồ, thể khiến mát trong không nóng).” Hay trong bài Ta Lạc Phát () của Bạch Cư Dị (, 772-846) cũng có câu: “Hữu như Đề Hồ quán, tọa thọ thanh lương lạc (, lại như rưới Đề Hồ, ngồi thọ vui mát mẻ).” Lại như trong bài Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Tự () của vua Hiến Tông (, tại vị 805-820) nhà Đường có đoạn: “Tỉ phi duyệt chi giả Cam Lồ sái ư Tâm Điền, hiểu ngộ chi giả Đề Hồ lưu ư tánh cảnh (, người đọc kỹ nó như Cam Lồ rưới nơi ruộng tâm, người hiểu ngộ được nó như Đề Hồ chảy vào cảnh giới tánh).” Bên cạnh đó, trong bài Thật Tế Tự Cố Tự Chủ Hoài Uẩn Phụng Sắc Tặng Long Xiển Đại Pháp Sư Bi Minh () của Đổng Hạo () nhà Thanh cũng có đoạn: “Tri dữ bất tri, ngưỡng Đề Hồ ư Cú Kệ, thức dữ bất thức, tuân Pháp Nhũ ư ba lan (, biết và không biết, kính Đề Hồ từng câu kệ, hiểu và không hiểu, tin sữa pháp nơi sóng cả).” Ngay như trong Tây Du Ký (西), hồi thứ 31 có câu: “Na Sa Tăng nhất văn Tôn Ngộ Không tam cá tự, tiện hảo tợ Đề Hồ quán đảnh, Cam Lồ tư tâm (便, Sa Tăng một khi nghe được ba chữ Tôn Ngộ Không, tức thì giống như nước Đề Hồ rưới đầu, Cam Lồ rửa tâm).” Trong bài tán Kinh Pháp Hoa cũng có đề cập đến Đề Hồ như: “Hầu trung Cam Lồ quyên quyên nhuận, khẩu nội Đề Hồ đích đích lương (, dưới cổ Cam Lồ rả rích nhỏ, trong miệng Đề Hồ giọt giọt tươi).”