Đạo Kính

《道鏡》 dào jìng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Dōkyō, ?-772: chính trị gia, vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới Thời Đại Nại Lương, húy là Đạo Kính (), xuất thân Cung Tước (), Hà Nội (, Kawachi, thuộc Ōsaka []), họ Cung Tước (). Có thuyết cho rằng ông là con của Hoàng Tử Thí Cơ (, Shiki). Lúc còn trẻ, ông theo làm Đệ Tử của Nghĩa Uyên (, Gien)Đông Đại Tự (, Tōdai-ji), học về Pháp Tướng cũng như Duy Thức với vị này và học Phạn ngữ với Lương Biện (, Rōben). Sau ông đến ẩn cư tại Cát Mộc Sơn () trong vùng và Chuyên Tu pháp Như Ý Luân (). Về sau, ông vào cung nội làm việc với tư cách là Đại Thần Thiền Sư (). Vào năm 762 (niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự [] thứ 6), tại Bảo Lương Cung (), ông dùng Tú Diệu Bí Pháp (宿) chữa lành bệnh cho Hiếu Khiêm Thượng Hoàng (, Kōken Jōkō, tức Xưng Đức Thiên Hoàng [, Shōtoku Tennō] sau này), cho nên được Thượng Hoàng kính trọng. Sau vụ loạn của Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ (, Fujiwara-no-Nakamaro), vào năm 763, ông được phong làm chức Thiếu Tăng Đô () và bắt đầu tham gia vào chính giới. Đến năm 764, ông được thăng lên chức Đại Thần Thiền Sư, rồi năm sau thì làm Thái Chính Đại Thần Thiền Sư () và nắm chính quyền trong tay. Từ đó, ông bắt đầu nền chính trị xem trọng Phật Giáo, đến năm 766 thì lên làm Pháp Vương () và âm mưu cưỡng quyền. Vào năm 769, ông bịa đặt ra câu chuyện vị Thần của Vũ Tá Thần Cung (, Usa Jingū) ở tiểu quốc Phong Tiền (, Buzen, thuộc Ōita-ken []) giáng lệnh buộc Thiên Hoàng phải nhường ngôi vị cho Đạo Kính; nhưng trong khi đến tham bái nơi đó cũng có mặt của Hòa Khí Thanh Ma Lữ (, Waki-no-Kiyomaro), vị này phủ nhận câu chuyện trên là không có thật, nên đã cùng với Đằng Nguyên Bách Xuyên (, Fujiwara-no-Momokawa) ngăn chận âm mưu cướp ngôi vua của Đạo Kính. Năm sau, khi Xưng Đức Thiên Hoàng qua đời, ông bị đày đến Hưng Phước Tự (, Kōfuku-ji) ở vùng Hạ Dã (, Shimotsuke) với chức Biệt Đương () và qua đời tại đó.