Đằng Sum Hoằng An

《藤森弘安》 téng sēn hóng ān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Fujimori Hiroyasu, 1799-1862: Phiên sĩ của Phiên Tiểu Dã (, Ono-han) và Phiên Thổ Phố (, Tsuchiura-han); húy là Đại Nhã (); tự Thuần Phong (); thông xưng là Cung Trợ (), Thiên Sơn (); hiệu là Như Bất Cập Trai (); con của Đằng Sum Nghĩa Chánh (); xuất thân Giang Hộ. Ông từng theo hầu Sài Dã Bích Hải (), Trường Dã Phong Sơn (), Cổ Hạ Cốc Đường (), Cổ Hạ Đồng Am (). Sau khi trở về cố hương, ông kế thừa sự nghiệp cha, làm Thị Giảng cho Nhất Liễu Mạt Diên (). Sau ông dâng lời khuyên vị Phiên chủ Nhất Liễu Mạt Châu () về thời thế; nhưng người này không nghe, nên ông từ chức, về mở trường dạy học tư ở Giang Hộ. Không bao lâu sau, nhờ Sác Tỉnh Tả Trung (), Phiên sĩ của Phiên Cửu Bảo Điền (, Kubota-han), giới thiệu, ông đến làm việc cho Thổ Ốc Ngạn Trực () cũng như Thổ Ốc Dần Trực (), Phiên chủ của Phiên Thổ Phố và làm cho Chu Tử Học được phổ cập. vào năm 1839 (Thiên Bảo [] 10), ông cống hiến công sức sáng lập Úc Văn Quán (), trường học của Phiên, làm Đốc Học và tận lực giáo dưỡng con em các Phiên sĩ. Năm 1843 (Thiên Bảo 14), ông được cử làm quan Phụng Hành, chủ yếu giải quyết những sự việc kiện tụng. Tuy nhiên, vào năm 1846 (Hoằng Hóa [] 3), vì có liên lụy đến hàng bộ hạ, ông từ chức quan Phụng Hành, rồi bị dính líu trong vụ đấu tranh giành quyền lực; nên vào năm sau thì rời khỏi Phiên và trở về lại Giang Hộ. về sau, ông mở trường Tư Thục ở Hạ Cốc (), giang hộ; đến năm 1853 (Gia Vĩnh [] 6), ông viết cuốn Hải Phòng Bị Luận (), Sô Ngôn (). Năm 1857 (An Chính [] 4), ông lên kinh đô, giao lưu với nhóm Lương Xuyên Tinh Nham (), Lại Tam Thọ Tam Lang (), Mai Điền Vân Banh (), Nguyệt Tánh (), v.v. Do vì ông có liên quan đến vụ Đại Ngục An Chính () năm 1858, nên bị bắt ở Giang Hộ. Đến năm 1859 (An Chính 6), ông bị xử hình phạt đuổi ra khỏi phiên, nên chuyển đến vùng Hành Đức () thuộc tiểu quốc Hạ Tổng (, Shimōsa). Cho đến năm 1862 (Văn Cửu [] 2), ông mới được miễn tội, trở về ở nơi tư dinh của người con trai kế là Quang Cát (), và qua đời tại đây. Ông có để lại khá nhiều trước tác về dân chính và hải phòng; hơn nữa, ông cũng đã phát huy tài năng ưu tú về Đường Tống Văn cũng như Hán Thi.