Đăng Lung
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Lồng đèn. Cũng gọi Đăng lâu (lầu đèn), Đăng lư (lò đèn), Đăng cung (cung đèn). Lồng đèn có Tác Dụng chắn gió lọt vào làm tắt đèn, đồng thời ngăn chặn những con muỗi, ruồi, thiêu thân (con ngài) không cho bay vào để khỏi bị chết cháy. Cứ theo luật Ngũ Phần quyển 18 và Hữu Bộ tì nại da tạp sự quyển 13 chép, thì đức Phật cho phép thắp đèn để Bố tát thuyết giới, nhưng vào những đêm mùa hè thắp đèn làm thương tổn những côn trùng nhỏ nên cần làm lồng để ngăn chận không chochúng bay vào. Lồng đèn có thể làm bằng các vật liệu như: đồng, sắt, đất nung, gỗ, v.v... nếu lồng có kẽ hở chiếu sáng thì nên lấy giấy, lụa hoặc vật mỏng che lại để loài trùng khỏi bay vào đèn. Tập tục phổ thông của Trung Quốc, hằng năm vào đêm rằm tháng giêng âm lịch, dân chúng thắp đủ loại đèn lồng. Cũng có khi dùng hoa và các loại đèn lồng để trang trí chùa viện, Điện Đường, gọi là Hoa đăng. Tại Nhật bản, đèn lồng thường dùng để cúng dường Phật và thần. Phần nhiều ở hai bên điện Phật đều để một ngọn đèn, trong nhà và khuôn viên chùa đều có thiết trí. Lồng đèn có cái dài tới 7 mét, nếu để trong nhà thì chỉ dài 1 mét. Về hình dáng thì có các loại lồng đèn 8 góc, 6 góc, 4 góc, hình vuông, hình tròn, hình trứng, hình quả ấu, v.v... Do hình dáng và chất liệu khác nhau mà có các loại lồng đèn như: Lồng đèn đá, lồng đèn vàng, lồng đèn hình 4 góc, lồng đèn cao, lồng đèn mẫu đơn, lồng đèn con cá v.v... Ngoài ra, còn có lồng đèn cao hình 4 góc (lồng đèn chậu) bằng giấy dán hồ, phần nhiều dùng trong Đại Lễ Vu lan bồn. Vào đêm Vu lan, loại đèn lồng này cùng với phẩm vật cúng dường được đặt trên chiếc bè kết bằng những cây lau rồi thả xuống sông cho trôi theo giòng nước, gọi là Phóng hà đăng (đèn thả trên sông). Còn đèn cháy suốt ngày đêm không dứt thì gọi là Thường Dạ Đăng. [X. luật Tứ phần Q. 53.; Pháp Uyển Châu Lâm Q. 35.; Nhiên đăng duyên trong Chư Kinh Yếu Tập Q. 4.].