Đại Giác Tự

《大覺寺》 dà jué sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Daikaku-ji: ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Giác Tự () thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Sagaōzawa-chō (), Sakyō-ku (), Kyoto-shi (), còn được gọi là Tha Nga Ngự Sở (), Đại Giác Tự Môn Tích (). Nguyên Lai xưa kia chùa là Ly Cung của Tha Nga Thiên Hoàng (, Saga Tennō, tại vị 809-823), Không Hải Đại Sư điêu khắc tượng Ngũ Đại Minh Vương () và kiến lập Ngũ Giác Viện (). Khi gặp bệnh dịch hoành hành, Đại Sư cho đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh do tự tay mình viết và nạp vào Tâm Kinh Đường (). Vào năm 876 (niên hiệu Trinh Quán [] thứ 18), thể theo lịnh chỉ của Hoàng Hậu Chánh Tử (), chùa được khai sáng và ban tặng cho Hoàng Tử thứ 2 là Thân Vương Hằng Tịch (, Kōjaku). Thân Vương an trí tượng A Di Đà, chỉnh trang cảnh quan chùa, và vào năm 878 (niên hiệu Nguyên Khánh [] thứ 2), chùa được phép cho độ mỗi năm 2 người. Đến năm 918 (niên hiệu Diên Hỷ [] thứ 18), Vũ Đa Thiên Hoàng (, Uda Tennō, tại vị 887-897) thọ trì hai bộ Quán Đảnh tại chùa này, và Khoan Không () làm vị Tổ đời thứ 2 của chùa. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Nguyên (, 978-983), chùa thuộc quyền quản lý của Nhất Thừa Viện () của Hưng Phước Tự (, Kōfuku-ji). Đến năm 1268 (niên hiệu văn vĩnh thứ 5), Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246) đến tu tại đây, rồi sau đó Quy Sơn Thiên Hoàng (, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274) cũng đến Nhập Chúng. Vào năm 1307 (niên hiệu Đức Trị [] thứ 2), Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) tiến hành tổ chức Viện Chính tại Thọ Lượng Viện (), cho xây dựng phòng ốc và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Đến năm 1336 (niên hiệu Kiến Võ thứ 3), chùa bị cháy toàn bộ. Năm 1392 (niên hiệu Nguyên Trung thứ 9), ngay tại chùa này, Hậu Quy Sơn Thiên Hoàng (, Gokameyama Tennō, tại vị 1383-1392) nhường thần khí lại cho Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (, Gokomatsu Tennō, tại vị 1382-1412) và nơi đây trở thành vũ đài lịch sử đấu tranh. Đời đời chư vị Thân Vương đều làm trú trì ở đây, mặc dầu bị đốt cháy tan tành trong vụ Loạn Ứng Nhân (), nơi đây vẫn trở thành ngôi chùa Môn Tích và rất hưng thịnh. Chính các dòng họ Phong Thần (, Toyotomi), Đức Xuyên (, Tokugawa) đã từng hộ trì đắc lực cho chùa, nhưng kể từ cuối thời Giang Hộ trở đi thì trở nên hoang phế. Dưới thời Minh Trị Duy Tân, có khi chẳng ai trú trì ở đây cả, rồi sau đó nhóm Nam Ngọc Đế (), Cao Tràng Long Sướng () đã tận lực phục hưng lại hiện trạng. Khách Điện (殿) của chùa là kiến trúc thời Đào Sơn (, Momoyama), trong đó có 13 bức tranh tùng và chim ưng. Thần Điện (殿) là kiến trúc cung điện đầu thời thời Giang Hộ, có 18 bức tranh hoa Mẫu Đơn, 8 bức Hồng Mai với bút tích của Thú Dã Sơn Lạc (, Kanō Sanraku, 1559-1635), do Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629) hiến cúng. Trong Ngũ Đại Đường () có an trí tượng Ngũ Đại Minh Vương thuộc cuối thời Bình An và một số tượng khác. Bảo vật của chùa có đồ hình Ngũ Đại Hư Không Tạng (), Khổng Tước Kinh Âm Nghĩa (), v.v.