Di Mưu

《貽謀》 yí móu

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: vốn phát xuất từ câu “di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử (, trao truyền mưu kế cho đàn cháu để làm yên cho đàn con)” trong Thi Kinh (), chương Đại Nhã (), phần Văn Vương Hữu Thanh (). Về sau, từ Di Mưu được dùng với ý nghĩa là lời giáo huấn, dạy dỗ của ông bà đối với con cháu. Như trong bài Hàn Duy Tổ Bảo Xu Lỗ Quốc Công Chế () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Thượng dĩ báo Di Mưu chi đức, hạ dĩ lệ di hiếu chi thành (, trên báo đáp dạy dỗ Ân Đức, dưới khích lệ hiếu nghĩa lòng thành).” Trong Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (, Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 5 có đoạn: “Nhược vị đắc Pháp Thân, đản tác Ý Đẳng Thí, tức thị Vô Ngại Pháp Thí, thử diệc tiên hiền chi cách ngôn, sơ học chi Di Mưu(, nếu chưa Chứng Đắc Pháp Thân, mà thực hành Bố Thí Bình Đẳng, tức là Pháp Thí Không Ngại; đây chính là cách ngôn của hiền Thánh đi trước, là lời giáo huấn cho hàng mới vào đạo).”