Danh Thuyên Tự Tính

《名詮自性》 míng quán zì xìng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Nghĩa là danh giải thích rõ ràng tự tính của sự vật. Luận Câu xá, luận Duy Thức cho nó là một trong các pháp Tâm bất tương ứng hành, đồng thời, lập thành Danh Thân, Cú Thân và Văn thân. Danh (Phạm: nàman) chỉ tên gọi của sự vật tương đương với đơn ngữ. Cú (Phạm:pada) là câu do đơn ngữ cấu thành. Văn (Phạm: vyaĩjana) là văn tự cấu thành đơn ngữ, chỉ cho âm tiết. Thân hàm ý là tổng thể, Tích Tụ. Luận Thành Duy Thức quyển 2 (Đại 31, 6 trung), nói: Danh giải thích tự tính (Bản Thể), Cú giải thích sự Sai Biệt (Hiện Tượng). Như nói Chư Hành Vô Thường thì Chư (các) là danh, tên gọi số nhiều. Danh này chỉ giải thích rõ tự tính của nhiều pháp, nên gọi là Danh Thuyên Tự Tính. Còn Chư là tên gọi của số nhiều, cho nên hông Phân Biệt Hữu Vi, Vô Vi mà có thể chung cho tất cả. Nhưng chư khi thêm ba chữ hành vô thường vào nữa để thành cú (câu) thì lại giải thích rõ nghĩa Sai Biệt. Vì hành là nghĩa dời đổi, là tên gọi chung các pháp Hữu Vi, mà pháp Hữu Vi thì đều vô thường, nên gọi là Chư Hành Vô Thường. [X. luận Câu xá Q. 5.; luận Du Già sư địa Q. 52.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 2. phần cuối]. (xt. Danh).