Dã Trung Kiêm Sơn

《野中兼山》 yě zhōng jiān shān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Nonaka Kenzan, 1615-1664: quan Lão Trung của Phiên Thổ Tá (, Tosa-han), Nho gia Nam Học và là chính trị gia, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; tên là Chỉ (); tự Lương Kế (); thông xưng là Truyền Hữu Vệ Môn (); hiệu Kiêm Sơn (); thân phụ là Dã Trung Lương Minh (). Năm lên 13 tuổi, ông quen biết với Tiểu Thương Thiểu Giới () của Phiên Thổ Tá; rồi nhờ người này làm môi giới, ông đến làm rễ nhà Dã Trung Trực Kế (), quan Phụng Hành của Phiên; và năm lên 15 tuổi thì ra làm quan với tên là Lương Kế. Vào năm 1636 (Khoan Vĩnh [] 13), khi dưỡng phụ Trực Kế qua đời, ông kế thừa sự nghiệp của dòng họ Dã Trung, làm chức Phụng Hành. Phiên chủ là Trung Nghĩa () hạ lệnh cho ông tiến hành cải cách chính trị của Phiên và ông đã góp công lớn trong việc kiến thiết đê điều, khai thác tài nguyên thiên nhiên của Phiên để tăng sản lượng gạo thóc, v.v. Hơn nữa, ông còn cho du nhập các loại Thực Vật, cá giống cũng như kỷ thuật bắt cá voi, làm đồ gốm, nuôi ong, v.v.; nhờ vậy, nền tài chính của Phiên chuyển sang hướng tốt. Năm 1656 (Minh Lịch [] 2), Phiên chủ Trung Nghĩa lui về ẩn cư, Trung Phong () lên thay thế. Đến năm 1663 (Khoan Văn [] 3), do vì bất mãn với chính sách của Kiêm Sơn, thông quan quan Gia Lão Thâm Vĩ Xuất Vũ (), nhóm Dựng Thạch Nguyên Chính (), Sanh Câu Mộc Công () đề xuất bản trạng hạch tội. Cho nên, Kiêm Sơn bị thất cước, lui về Bế Quan ở vùng Túc Mao (宿) và năm sau thì ông qua đời.