Cửu Thiên

《九天》 jiǔ tiān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho trung ương và tám phương khác của trời. Như trong Sở Từ (), thiên Ly Tao (), có câu: “Chỉ Cửu Thiên dĩ vi chánh hề, phù duy linh tu chi cố dã (, chỉ Cửu Thiên lấy làm chính chừ, cho nên phàm Thần Minh thấy xa được vậy).” Trong Thái Huyền (), Thái Huyền Số (), của Dương Hùng (, 53 ttl.-18) nhà Hán, lại cho rằng: “Cửu Thiên, nhất vi Trung Thiên, nhị vi Tiện Thiên, tam vi Tùng Thiên, tứ vi Canh Thiên, ngũ vi Túy Thiên, lục vi Quách Thiên, thất vi Giảm Thiên, bát vi Trầm Thiên, cửu vi Thành Thiên (, Cửu Thiên, một là Trung Thiên, hai là Tiện Thiên, ba là Tùng Thiên, bốn là Canh Thiên, năm là Túy Thiên, sáu là Quách Thiên, bảy là Giảm Thiên, tám là Trầm Thiên, chín là Thành Thiên).” Hay trong Lã Thị Xuân Thu (), Phần Hữu Thỉ (), lại đưa ra giải thích khác về Cửu Thiên là phương trung ương có Quân Thiên (), phương Đông có Thương Thiên (), Đông Bắc là Biến Thiên (), Bắc là Huyền Thiên (), Tây Bắc là U Thiên (), Tây là Hạo Thiên (), Tây Nam là Chu Thiên (), Nam là Viêm Thiên (), Đông Nam là Dương Thiên (). (2) Chỉ cho nơi cao nhất trên bầu trời. Như trong Tôn Tử (), Hình Thiên (), có câu: “Thiện công giả, động ư Cửu Thiên chi thượng (, người khéo đánh, có thể làm động đến tận trời cao).” Hay trong bài thơ Vọng Lô Sơn Bộc Bố () của Lý Bạch (, 701-762) nhà Đường cũng có câu: “Phi lưu trực hạ tam thiên xích, nghi thị Ngân Hà lạc Cửu Thiên (, bay vù thẳng xuống ba ngàn thước, ngờ ấy Ngân Hà rụng trời cao).” (3) Chỉ cấm cung. Như trong bài thơ Hòa Cổ Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung Chi Tác () của Vương Duy (, 701-761) nhà Đường có câu: “Cửu Thiên Xương Hạp khai cung điện, vạn quốc y quan bái miện lưu (殿, cấm cung cửa trời bày cung điện, muôn nước áo quan vái Thượng Hoàng).”