Cửu Huyền Thất Tổ

《九玄七祖》 jiǔ xuán qī zǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Theo quan niệm của Trung Quốc, Cửu Huyền () là 9 đời, gồm tử (, con), tôn (, cháu), tằng (, chắt), huyền (, chít), lai (, chiu), côn (), nhưng (), vân (), nhĩ (); nghĩa là tính từ đời con trở xuống. Thất Tổ là phụ (, cha), tổ (, ông), tằng (, cố), cao (, cao), thái (), huyền (), hiển (); tức là tính từ đời cha trở lên. Đặc biệt, từ thời nhà Nguyên trở đi, người cha đã qua đời được gọi là Hiển Khảo (). Như vậy, trong hệ thống các đời của Cửu Huyền Thất Tổ không có sự trùng lập của đời nào cả. Trong Phước Đức Chánh Thần Kim Kinh () của Đạo Giáo có câu rằng: “Tu hành vô biên phước, lập đức lập công dương, kết tiên duyên, độ Từ Hàng, Cửu Huyền Thất Tổ vĩnh lưu phương (, Tu hành vô biên phước, lập đức lập công nêu cao, Kết Duyên với tiên, qua thuyền từ, Cửu Huyền Thất Tổ mãi thơm lây).” Tuy nhiên, theo quan niệm của Việt Nam, Cửu Huyền Thất Tổ được định nghĩa khác. Cửu Huyền là 9 đời, gồm cao (, ông cao), tằng (, ông sơ), tổ (, ông cố), khảo (, ông nội), cha, bản thân mình, con, cháu, chắt và chít; được tính từ . Thất Tổ () là 7 đời, gồm cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, Cao Tổ; tính từ đời ông cao trở lên. Thế thì, theo Việt Nam, hệ thống Cửu Huyền Thất Tổ có khác với Trung Quốc và có sự trùng lập ở đời ông cao. Trong tác phẩm Sự Lý Dung Thông () của Thiền Sư Hương Hải (, 1728-1715) có hai câu thơ đề cập đến Cửu Huyền Thất Tổ như: “Thích độ nhân miễn Tam Đồ khổ, thoát Cửu Huyền Thất Tổ siêu phương (, Phật độ người miễn Ba Đường khổ, thoát Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng).”