Cưu Bàn Đồ

《鳩槃荼》 jiū pán tú

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Kumbhàịđa, Pàli: Kumbhaịđa. Còn gọi là Câu bàn đồ, Cứu bàn đồ, Cung bàn đồ, Cưu mãn nô, Bàn tra. Dịch ý: loài quỉ hình cái hũ, quỉ hình quả bí, quỉ đáng ghét, là một trong hai bộ quỉ loại lệ thuộc trời Tăng trưởng, nhưng kinh Viên Giác thì gọi quỉ này là Đại Lực quỉ vương. Loài quỉ này ăn tinh khí người, đi nhanh như gió, biến hóa nhiều cách, ở nơi rừng hoang, cai quản các quỉ. Cứ theo kinh Đại Phương Đẳng đại tập quyển 52 chép, thì đức Phật từng sai Tì lâu lặc thiên vương (trời Tăng trưởng) hộ trì châu Diêm Phù Đề ở phương nam. Dưới quyền Thiên vương này có đại thần Cưu Bàn Đồ, cầm đầu nhiều bộ chúng, có thế lực lớn. Dưới quyền vị Đại thần có anh em Cưu Bàn Đồ và các Quyến Thuộc: Đàn đề, Ưu ba đàn đề, Đại đỗ (bụng to), Cát ca xa, Ma Ha bát thấp bà, Thập thủ (mười tay), Sơn hành (đi trong núi) v.v... [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q. 2., Viên Giác kinh lược sớ Q. 4.].