Công Đức

《功德》 gōng dé

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: guṇa: âm dịch là Cụ Nẵng (), Ngu Nẵng (), Cầu Na (); ý dịch là Công Đức, phước đức; cũng chỉ cho Quả Báo có được nhờ làm việc thiện. Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 3 có ghi lại đoạn vua Võ Đế (, tại vị 502-549) nhà Lương hỏi Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma () rằng: “Trẫm tức vị dĩ lai, tạo tự Tả Kinh Độ Tăng bất khả thắng kỷ, hữu hà Công Đức ? Sư viết: 'Tinh vô Công Đức.' Đế viết: 'Hà dĩ vô Công Đức ?' Sư viết: 'Thử đản Nhân Thiên tiểu quả Hữu Lậu chi nhân, như ảnh tùy hình tuy hữu phi thật.' Đế viết: 'Như hà thị chơn Công Đức ?' Đáp viết: 'Tịnh trí Diệu Viên thể tự Không Tịch, Như Thị Công Đức bất dĩ thế cầu' (, Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, lập chùa, chép kinh, độ Tăng Chúng, không thể tính hết, vậy có Công Đức gì không ? Tổ Sư đáp rằng: 'Đều không có Công Đức gì cả.' Vua hỏi: 'Vì sao không có Công Đức ?' Tổ Sư đáp: 'Đây chỉ là Quả Báo nhỏ của trời người, có nhân Hữu Lậu, như bóng theo hình tuy có mà không thật.' Vua hỏi: 'Thế nào là Công Đức Chân Thật ?' Trả lời rằng: 'Trí trong sạch tròn đầy, thể tự vắng lặng, Công Đức như vậy không lấy Thế Gian mà cầu được).” Trong Thắng Man Bảo Quật (, Taishō Vol. 37, No. 1744) quyển Thượng giải thích về nghĩa Công Đức rằng: “Ác tận viết công, thiện mãn viết đức; hựu đức giả đắc dã, tu công sở đắc, cố danh Công Đức(滿, điều ác hết gọi là công, việc thiện tròn đầy gọi là đức; lại nữa đức có nghĩa là đắc [có được], nhờ Công Năng tu tập mà có được, nên gọi là Công Đức vậy).” Sự sâu xa, rộng lớn của Công Đức được ví như biển, nên được gọi là Công Đức hải (Sanskrit: guṇa-sāgara, , biển Công Đức); rất quý trọng như báu vật nên có tên là Công Đức bảo (Sanskrit: guṇa-ratna, ); và một số từ khác đi với Công Đức như Công Đức lâm (, rừng Công Đức), Công Đức Tụ (, sự tích lũy Công Đức), (, Trang Nghiêm Công Đức), Công Đức Tạng (, kho tàng Công Đức), v.v.