Cổ Sơn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Vị trí núi nằm về bắc ngạn sông Mân mạn đông Phúc châu tỉnh Phúc kiến. Thế núi chạy dài mười bảy cây số, trên ngọn núi có những tảng đá lớn hình giống như những cái trống, vì thế gọi là Cổ Sơn. Dãy núi do một số ngọn tổ thành, ngọn cao nhất gọi là Đại đính phong (còn gọi là Lực tắc phong, núi cao to). Ngoài ra, còn có Bạch Vân phong (tục còn gọi là Tiểu đính phong), Phượng trì phong, Hương lư phong, Bát Vu phong, Đông phong, Song kế phong, Sư tử phong. Trên núi vốn có chùa Hoa nghiêm, tương truyền là nơi Thiền Sư Linh Kiệu đã hàng phục con rồng độc vào năm Kiến trung thứ 4 (783) đời Đường. Sau Pháp Nạn Hội Xương thì chùa bị hoang phế. Năm Khai bình thứ 2 (908) đời Hậu Lương, Mân chủ vương kiến tạo lại và thỉnh Đệ Tử của Ngài Tuyết phong Nghĩa Tồn là Thần Án về trụ trì. Thời Chân Tông nhà Tống, vua ban ngạch là Cổ Sơn Bạch Vân phong Dũng Tuyền Thiền Viện. Đến năm Vĩnh lạc thứ Toàn cảnh chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn5 (1407) đời Minh, đổi tên là Dũng Tuyền Tự. Năm Gia tĩnh 21 (1542) chùa bị thiêu hủy. Sau, các sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Vi Lâm Đạo Bái, Biến chiếu Hưng long, Quan diệu, Không lão v.v... sửa sang làm lại, các nhà điện, lầu gác, Tam quan, phòng xá dần dần mới đầy đủ. Những cấu trúc còn lại đến nay đều do các sư Nguyên Hiền, Đạo bái làm lại sau, Điện Đường, lầu gác hoàn bị, thực hiếm thấy trong các ngôi chùa Phật Hiện còn tại Trung Quốc. [X. Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 179 - Chức Phương Điển thứ 1040 - Chi Na văn hóa sử tích giải thuyết Q. 6.].