Chuyển Tề Chuyển Diệt

《轉齊轉滅》 zhuǎn qí zhuǎn miè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Là chuyển tề và chuyển diệt nói gộp lại, Danh Mục nói về Chủng Tử do tông Duy Thức lập ra. Tức là, chuyển đổi cái tính kém cỏi của Chủng Tử liệt tính (hạ phẩm) cho ngang bằng với cái tính chất tốt hơn sẵn có (trung phẩm) của Chủng Tử tiên thiên, gọi là Chuyển tề - diệt hết tính kém cỏi của Chủng Tử liệt tính, chuyển đổi thành chủng tứ có tính chất tốt hơn, gọi là Chuyển diệt. Tông Duy Thức, khi bàn về khởi nguyên của Chủng Tử, có ba phái chủ trương ba thuyết, đó là: Duy Bản Hữu thuyết, cho là tiên thiên, Duy tân huân thuyết cho là hậu thiên, và Tân cổ hợp sinh thuyết chiết trung hai phái trên. Trong đây, phái Tân cổ hợp sinh thuyết bảo rằng, Chủng Tử có ba phẩm Thượng, Trung, Hạ, Chủng Tử Kiến Đạo sơ vô lậu là Hạ phẩm sẵn có, tức lấy sự Huân Tập nghe làm duyên Tăng Thượng mà sinh Hiện Hành - do sức tu tập của trí vô Phân Biệt khi đến vị tu tập, lại do Chủng Tử vô lậu Trung phẩm sẵn có sinh Hiện Hành, đồng thời, Chủng Tử Hạ phẩm ở trên cũng do sức Hiện Hành của Chủng Tử Trung phẩm sẵn có mà chuyển thành Chủng Tử Trung phẩm - đến ngôi vị Phật lại chuyển Trung phẩm đều thành Thượng phẩm. Chủ trương này tức thuộc thuyết Chuyển tề. Trái lại, hai phái Duy tân huân thuyết và Duy Bản Hữu thuyết, không lập Chủng Tử làm ba phẩm riêng lẻ, mà chủ trương Chủng Tử là một chủng loại Duy Nhất. Khi vào Kiến Đạo, thì do Chủng Tử vô lậu Hạ phẩm sinh Hiện Hành, lần lượt diệt tính kém cỏi hạ đẳng mà thành phẩm trung đẳng tốt hơn. Chủ trương này tức thuộc Chuyển diệt thuyết. [X. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 7. phần đầu - Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 2. phần cuối - Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng Q. 2. phần cuối]. CHUYỂN THẾ
I. Chuyển thế(đổi đời). Là một trong hai mươi bảy Hiền Thánh. Ở kiếp trước, sau khi đã chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, chuyển đến đời này được quả Bất hoàn. Các bậc Thánh này không vào cõi Sắc, cõi Vô sắc, mà đi thẳng vào Niết Bàn. [X. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 5. - Thành Duy Thức Luận xu yếu Q.thượng - Bát Tông Cương Yếu]. (xt. Nhị Thập Thất Hiền Thánh).
II. Chuyển thế. Là chế độ kế thừa Phật sống của Phật giáo Tây tạng. Còn gọi là Chuyển Sinh. Bắt nguồn từ các thuyết Linh Hồn chuyển thế, và Sinh Tử Luân hồi. Mở đầu từ Cầu tùng khẳng ba của phái Ca nhĩ mã ca nhĩ cư thuộc hệ phái Ca nhĩ cư vào thế kỉ thứ
XIII. Sau khi phái Cách lỗ hưng khởi, nghiêm cấm chư tăng lấy vợ, bắt đầu từ Đạt lại đời thứ ba, chế độ Chuyển thế được ứng dụng để giải quyết vấn đề thừa kế lãnh tụ tôn giáo. Người chuyển thế gọi là Hoạt Phật (Phật sống), sau khi Phật sống Thị Tịch, các vị Cao Tăng y theo nghi thức bói quẻ, giáng thần mà đi tìm kiếm một số trẻ con sinh đúng vào giờ Phật sống Thị Tịch, từ trong số đó, chọn lấy một trẻ tinh anh để làm Phật sống chuyển thế, rước về chùa thừa kế ngôi vị tôn giáo của Phật sống. Sau vì bị những người tuyển chọn thao túng, vào năm Càn long 57 (1792) đời Thanh, qui định phép Rút thăm từ chiếc bình vàng tại viện Lí phiên để chọn vị đại Hoạt Phật chuyển thế, nhằm tránh các mối tệ. Những vị Lạt Ma có chút tiếng tăm tại các chùa viện nhỏ khác, cũng có thể tự đi tìm kiếm những trẻ tinh khôn mà chuyển thế, do đó xuất hiện nhiều Phật sống lớn nhỏ.