Chú Tặc Kinh Pháp
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Là phép Bí Mật tu để trừ nạn giặc cướp, được tông Chân Ngôn Nhật bản coi trọng. Cứ theo kinh Tịch trừ tặc hại chú chép, thì quỉ thần vương Mặc lị âm lị ở trên núi Kiện đà Ma Ha thuật phương bắc, có bốn chị em, đều có phép trừ giặc. Như An đàn ni có thể trừ giặc lòa mắt, Vô ha ni có thể khiến giặc đứng, Ế Ma Ni có thể khiến giặc ngồi, Vô kha ni có thể khiến giặc Ngu Si. Người tu Chân Ngôn nếu y vào kinh này mà tu thì có thể trừ được giặc cướp, vào ngày 29 hàng tháng, thắp 7 ngọn đèn trước bàn Phật, thắp hương rải hoa, Chú Nguyện Quỉ tử mẫu, cũng tụng kinh này 7 biến, thì có thể khỏi nạn giặc cướp. Người dịch và người soạn kinh này không rõ là ai. Có thuyết nói kinh này là do Tiểu dã Nhân Hải, vị tăng Nhật bản, dựa vào kinh Khổng tước mà soạn thành, nhưng ba tạng Tống Nguyên Minh và tạng Cao li đều có thu kinh này, vì thế, không phải do người Nhật ngụy soạn. Lại Xuất Tam Tạng kí tập quyển 4 Tân tập lục soạn thất dịch tạp kinh lục, cũng có chép Chú tặc 1 quyển (hoặc gọi là Tịch trừ tặc hại chú), do đó mà biết, tại Trung Quốc, kinh này đã được san hành ở đời từ thời đại Nam triều Lương trở về trước. Bởi thế, cũng có học giả cho rằng kinh này đã được dịch vào thời Đông Tấn.